12/9/14

Nâng bi thơ lãnh tụ...

"Tiến lên chiến sĩ đồng bào..."
Nghe thơ thì biết thằng nào làm thơ...



Đó là câu thơ lan truyền trong giới văn nghệ bao năm nay, một câu thơ chế riễu vì sư nâng bi quá đáng của các thợ nâng bi nước ta. Chủ Tịch Hồ Chí Minh có thể là một nhà CM, Lãnh tụ lập quốc, hay cũng có thể là DNVH TG trong nhiều lãnh vực, nhưng không nhất thiết phải là một nhà thơ, và lại càng không phải là nhà thơ số 1 của Việt Nam. Vậy mà các thợ nâng bi đã nâng thơ Bác lên hàng TOP số 1 qua việc xếp những bài thơ của Bác, lại được viết bằng chữ Tàu lên hàng số 1 trong số 100 bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ 20, trên cả những bậc thơ tiền bối như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính...
Những câu thơ của Bác chỉ là những câu thơ cổ vũ phong trào, động viên chiến đấu...trong từng thời kỳ khác nhau của lịch sử, những câu thơ, vè chứ không phải là những áng thơ tuyệt hay, tuyệt kỹ để các chuyên gia nâng của chúng ta nâng lên hàng siêu đẳng như rứa. Nâng bi lên cao như thế thì có thơ rằng :
Nâng bi chi mà nâng tới cổ, 
Nâng bi kiểu đó bằng mười hại nhau....
Và nói chung thì đã là lãnh tụ, nhất là lãnh tụ CM thì không nên là một nhà thơ. Chúng ta đã có thời kỳ có các nhà thơ làm lãnh tụ chính trị CM như thời gian đó với các nhà thơ như Sóng Hồng (Trường Chinh), Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi...Và đó là thời gian có nhiều sai lầm như thế nào, các vụ Nhân Văn Giai Phẩm và trấn áp các nhà văn thơ tàn baọ ra sao. Tốt nhất đã làm văn chương thơ ca thì thôi, miễn cho trách nhiệm làm chính trị đi. Còn đã làm chính trị thì thôi, đừng thơ thẩn nữa. Như vậy đỡ khổ cho dân cho nước, mà nhà thơ cũng như thơ ca nói chung cũng không bị mang tiếng oan...
MTA

SÁU GIAI ĐOẠN CỦA MỖI ĐỜI NGƯỜI - KHỔNG TỬ.

Theo Khổng Tử, cuộc đời của mỗi người được chia làm 6 giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1: “Thập hữu ngũ nhi chí vu học” – nghĩa là 15 tuổi thì để hết tâm trí vào việc học; nói cách khác, thiếu thời cần tập trung vào việc tu dưỡng, xác định chí hướng và tích lũy kiến thức.



Giai đoạn 2: “Tam thập nhi lập” – 30 tuổi lập thân, lập nghiệp – đã trụ vững, có nghề nghiệp, việc làm, có khả năng nuôi sống bản thân và gia đình, đã xác định vị trí của mình trong xã hội.

Giai đoạn 3: “Tứ thập nhi bất hoặc” – 40 tuổi không còn mê hoặc, đến tuổi này thì đã chín chắn, lịch duyệt; có kiến thức và kinh nghiệm phong phú, nên đối với những việc diễn ra trong xã hội có chính kiến rõ ràng, kiên định, không còn nghi ngờ (bất hoặc).

Giai đoạn 4: “Ngũ thập nhi tri thiên mệnh” – 50 tuổi thì biết rõ sứ mệnh của mình; đã nắm vững quy luật tự nhiên và xã hội, biết được xu thế của thời cuộc, nên công việc thường thuận lợi và dễ dàng đi đến thành công.

Giai đoạn 5: “Lục thập nhi nhĩ thuận” – 60 tuổi thì không còn chướng tai gai mắt; do lý giải đúng căn nguyên của mọi việc diễn ra xung quanh và thấu hiểu nhân tình thế thái, nên dễ thông cảm và có thái độ khoan dung hơn – nhìn sự việc không còn thấy chướng tai gai mắt (thuận nhĩ); không như tuổi trẻ hiểu biết còn nông cạn, nên trước nhiều sự việc thường cảm thấy khó chịu, bực mình.

Giai đoạn 6: “Thất thập nhi tòng tâm sử dục, bất du cửu” – Tới tuổi 70, cổ lai hy thì đạt đến cảnh giới đắc đạo tâm tính và đạo đã hợp nhất, mọi thứ đã thành bản năng nên nghĩ gì hay làm gì cũng đều hợp đạo, chẳng vi phạm phép tắc (bất du cửu = không vượt ra ngoài quy tắc).

(st)

11/9/14

Chị Hằng bị...mất trinh.

Chị Hằng mấy triệu năm nay lung linh toả sáng...Gợi cho bao thi sĩ cảm xúc viết nên những vần thơ trác tuyệt, cũng như làm hàng triệu trẻ em rộn ràng háo hức phá cỗ ngắm trăng mỗi dịp Rằm tháng Tám...Thế nhưng nếu ở nước VN ta thì chị ấy sẽ không được phong Anh Hùng đâu. Vì theo phép duy vật biện chứng thì chị ấy không chịu làm gái già. Chị ấy phải đi kiếm giai, phải có giai...Và thế là...xong phim.
- Nhưng ai, ai mà đến lấy được đời con gái của chị ấy khi chị ấy ở một mình, phòng không buồng trống mấy triệu năm nay rồi...
- Thì thằng Cuội chứ còn ai nữa...bộ bao năm đó nó không lớn lên sao...Nó cũng biết phải làm gì khi có mình nó ở trên đó với chị Hằng, chứ không lẽ nó cứ ngồi gốc đa gọi trâu ời ời...hoài. Thôi thì ta cũng mừng vì biết giờ đây chị Hằng cũng có thằng Cuội làm...phi công trẻ cho chị ấy rồi...
MTA

10/9/14

Những bức hình kinh khủng trong Cải Cách Ruộng Đất...

Những tấm hình chụp về cùng về một con người, (người mặc áo dài đen) trong thời khắc đau đớn nhất của cuộc đời ông, thời khắc cuối cùng...

Đấu tố trước tòa án...


Pháp trường ngay sau đó...



Và vợ chồng "địa chủ"....



9/9/14

Một nửa sự thật không phải là sự thật...

Với những gì ta thấy trong cái gọi là triển lãm ảnh Cuộc cải cách ruộng đất, thì đó chỉ là phần nổi nhỏ bé của tảng băng khổng lồ của tội ác, của đại thất nhân tâm... mà với những gì hé mở trong thế giấu diếm thì ta có thể gọi đây chưa phải là sự thật đúng nghĩa, thậm chí đây chỉ là phần bao biện, che dấu và giả dối...


Đất nước của chúng ta đã trải qua những biến thiên kinh thiên động địa, những thời khắc kinh hoàng thì trong đó có vở bi kịch đau lòng có tên Cải cách ruộng đất...Một vở kịch bi hài mà phần bi kịch rơi vào những con người Việt Nam nhỏ bé, vô tội và biến họ thành những kẻ có số phận tàn nhẫn, những cái chết thảm thương, những số phận khốn cùng nhà tan cửa nát trong một thời điêu linh của dân tộc. Và cả hài kịch với những sửa sai, những giọt nước mắt muộn màng và rồi là sự che dấu, bịt kín sự việc bao năm nay.

Cho tới tận bây giờ thì những tội ác Trời không dung, Đất không tha của một thời ngũ cương luân thường đạo lý của ông bà bị đảo lộn, ngả nghiêng đó vẫn bị một màn sương khói mà những người phạm sai lầm và những kẻ kế thừa vẫn phủ kín phần lớn...Tại sao không đưa hết sự thật như nó vốn có ra để cho nhân dân, để cho lịch sử phán xét? Tại sao không đưa những kẻ thủ ác, những kẻ mà vì ngu xuẩn hay vì sáng suốt mà đem cả cha mẹ ra xét xử, những kẻ đã tàn nhẫn với cả đồng chí, đồng đội, với cả nhân dân và cha mẹ của mình...

Tại sao không công khai hết tất cả những sai lầm, công khai hết cả nhữngkẻ làm sai, và cho nhân dân biết vì sao đã làm sai, làm sai những gì và làm sai với những ai...

Không thể che giấu được nhân dân khi những tội ác đó là những đại tội ác, và những kẻ làm sai là những kẻ đại thủ ác..Và cũng không thể che giấu được lịch sử khi đó đã hiển hiện rõ là một thời điêu linh nhất, một thời khốn khiếp nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam chúng ta.
MTA

IS - nhà nước của những kẻ khủng bố...

Sau vụ chặt đầu nhà báo Mỹ James Foley, cái tên IS nổi lên trên thế giới như một tổ chức khủng bố máu lạnh. Những hành vi đàn áp, cướp bóc, bắt cóc để kiếm lời khiến nhiều người liên tưởng chúng như những kẻ "kinh doanh nỗi sợ hãi".

Abu-9944-1409365864.jpg
Abu Bakr al-Baghdadi . Ảnh: ALF
Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) đang gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự hỗn loạn trên toàn cầu. Chuck Hagel, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ nói về nó như một "mối nguy hại lớn sắp xảy ra khiến thế giới phải quan tâm". Thượng nghị sĩ James Inhofe khẳng định "chúng ta đang ở tình thế nguy hiểm nhất từ trước tới nay". Trong khi đó, ông John Allen, tướng về hưu lực lượng hải quân Mỹ thậm chí nhìn xa hơn cho rằng "Chiến tranh thế giới thứ ba có thể xảy ra trong tầm tay" dưới ảnh hưởng của IS.
IS là một nhóm kẻ khủng bố giết người man rợ dẫn đầu bởi Abu Bakr al-Baghdadi, theo Brian Michael Jenkins cố vấn cấp cao của tổ chức Nghiên cứu và Phát triển (RAND). Đến nay, vẫn có rất ít thông tin liên quan đến kẻ này. Tên của người này cũng chỉ là bí danh. Al-Baghdadi trong 8 năm vươn lên từ một binh sĩ jihad hoạt động ngầm trở thành thủ lĩnh của IS, và là chủ mưu gây ra và phát tán nỗi hoảng loạn trong khu vực.
Chỉ trong một đêm, nhóm của al-Baghdadi trở thành kẻ thù số một của quân đội Mỹ sau sự kiện chặt đầu nhà báo James Foley hôm 19/8. Trước khi Mỹ tham gia sâu hơn vào các động thái có thể dẫn tới sự can thiệp quân sự nghiêm trọng vào Iraq, người ta rất cần có một cái nhìn cận cảnh tới IS và các động lực nội tại của nó. Trái với những lý lẽ sáo rỗng, hành động của IS vượt qua mọi mối đe dọa mà nước Mỹ từng chứng kiến, Business Weekbình luận.
Theo các chuyên gia phân tích tình báo, kho vũ khí của al-Baghdadi gồm các xe tăng của Liên Xô cũ, xe quân sự Humvee đời mới của Mỹ, vài khẩu pháo cùng rất nhiều súng máy và súng phóng lựu. Đa phần chúng là chiến lợi phẩm thu giữ được từ các cuộc càn quét.
Tuy nhiên, thứ vũ khí mạnh mẽ nhất của hắn lại chính là truyền thông, thứ khiến tiếng nói IS lan tràn trên mạng Internet, chất đầy trên Youtube và lưu truyền với tốc độ chóng mặt ở Twitter. Hình ảnh khủng khiếp của những vụ chặt đầu, các cuộc hành quyết được ghi lại chuyên nghiệp và đăng tải lên mạng. Sự tàn bạo phục vụ cho mục đích duy nhất: Làm đối phương hoảng hốt và khiếp sợ. Chiến thuật này phản ánh con người và âm mưu của kẻ lãnh đạo.
Al-Baghdadi duy trì sự hiện diện của mình trước cộng đồng với hình tượng đầy bí ẩn, được xây dựng công phu và cẩn thận. Điều này giúp hắn thu hút sự chú ý của những kẻ cuồng tín, thanh niên gặp khó khăn trong cuộc sống, những tên ưa bạo lực từ khắp nơi trên thế giới. Nước cờ này biến IS thành lực lượng đáng sợ của những kẻ cực đoan.
Cái tên Nhà nước Hồi giáo mà al-Baghdadi tự đặt cho nhóm của mình thể hiện tham vọng lãnh thổ to lớn. Trước khi hình thành như hiện tại, lực lượng này đi từ Nhà nước Hồi giáo của Iraq tới Nhà nước Hồi giáo ở Iraq và mở rộng sang Syria, Lebanon, Palestine, Israel cùng một phần Thổ Nhĩ Kỳ.
IS-7942-1409365864.jpg
Lực lượng khủng bố Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) làm giàu bằng hành vi gieo rắc tội ác. Ảnh: AFP
Trong một lần xuất hiện hiếm hoi ở Mosul, al-Baghdadi đưa ra bài diễn thuyết kiểu như diễn văn nhậm chức. Đội khăn xếp và mặc áo choàng đen để khẳng định mình là hậu duệ của Muhammad, hắn tuyên bố sự khôi phục của Đế chế Hồi giáo.
Al-Baghdadi ngụ ý hiện thân của hắn là sự kế thừa đấng tiên tri, mang quyền uy của thế lực tôn giáo tối cao, và là thủ lĩnh chính trị của hơn 1,5 tỷ người Hồi giáo trên toàn thế giới. Al-Baghdadi chỉ phục tùng trước Thượng Đế, vì thế người Hồi giáo phải phục tùng trước al-Baghdadi, y cho là như vậy.
Học giả Hồi giáo truyền thống cho rằng tuyên bố này quá kiêu ngạo và vi phạm nghiêm trọng luật Hồi giáo. Ngay cả thủ lĩnh khủng bố trước kia là Osama bin Laden cũng chưa dám phát ngôn như vậy.
Hoạt động của IS được duy trì dựa trên một đế chế tội ác. Theo báo cáo mới đây của RAND, IS kiếm khoảng một triệu USD mỗi ngày, chủ yếu từ việc cướp ngân hàng, tịch thu hay ăn cắp các loại máy móc, thiết bị xây dựng, xe cộ rồi bán lại, chiếm đoạt tài sản của dân chúng bỏ trốn.
Ngoài ra nguồn thu từ việc bán cổ vật chúng cướp từ những ngôi đền, chốn thờ cúng linh thiêng của người theo đạo cũng rất lớn. Hồ sơ giao dịch tài chính bị phát hiện gần đây cho thấy chỉ riêng ở một khu vực nhỏ tại Syria, IS bỏ túi khoảng 36 triệu USD nhờ buôn lậu cổ vật.
Tiền chuộc từ các vụ bắt cóc, tiền thu được nhờ hành vi bảo kê, tống tiền, các loại thuế đánh vào người dân dưới quyền khiến IS trở nên giàu mạnh thêm. Chúng còn nắm quyền kiểm soát vài mỏ dầu nhỏ ở Iraq, một nhà máy lọc dầu ở Syria, hầu hết là do đánh chiếm và cướp được. Các cơ sở này cho phép IS thực hiện các phi vụ buôn dầu lậu, bổ sung nhiều triệu USD vào kho tàng.
Đóng góp từ người ủng hộ ở nước ngoài chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong thu nhập của IS. Phương thức tự cung tự cấp khiến nhóm linh động hơn nhưng cũng bộc lộ nhiều điểm yếu.
Lượng tiền kiếm được không ổn định và chủ yếu từ hành vi cướp bóc, vì thế IS phải liên tục mở rộng phạm vi hoành hành. Khi ngân hàng trống rỗng, doanh nghiệp không còn gì để lấy, IS buộc phải gia tăng hành vi bắt cóc, tống tiền, vắt kiệt dân chúng. Điều này sẽ thúc đẩy những người bị chúng áp bức vùng lên. Kẻ thù của IS dễ dàng đẩy nhanh quá trình này bằng cách tấn công những nguồn tiền dễ thấy và dễ bị ảnh hưởng của IS, ví dụ như các mỏ dầu.
Vũ Hoàng (Business Week)

8/9/14

Đừng chấp nhặt những lời thị phi, nói xấu...

Trời đang trưa nắng gắt bỗng đổ trận mưa rào, người nông dân mừng rỡ vì thoát khỏi hạn hán, trẻ con hớn hở chạy ào ra ở truồng tắm mưa, nhưng những người đang trên đường thì lại bực mình lắm vì đường bẩn và mưa ướt người họ...Và họ nguyền rủa cơn mưa.

Trăng Rằm tháng 8 sáng vằng vặc như gương treo trên bầu trời đêm, khiến bọn trẻ hớn hở rủ nhau đi phá cỗ, ăn bánh Trung Thu đón chị Hằng. Rồi các bậc thi nhân vui mừng gặp dịp thưởng thơ ngâm vịnh ngắm Trăng, nhưng bọn đạo chích lại ghét vì ánh trăng quá sáng tỏ, khiến chúng không đào tường khoét ngạch được và chúng nguyền rủa ánh trăng...



Đó, Ông Trời cao kia vốn chỉ giúp ích cho loài người chứ có lợi gì đâu, vậy mà cơn nắng mưa thời tiết vẫn bị thế gian trách ghét. Chị Hằng lung linh cả triệu năm như thế cũng không thoát khỏi bị có kẻ nguyền rủa. Vậy thì chúng ta là những con người nhỏ bé lắm, thì liệu chúng ta có muốn hơn cả Trời Đất mênh mông kia, hay hơn cả chị Hằng kia khi không muốn ai nói xấu mình...

Đừng sợ những lời thị phi, nói xấu, vì cuộc đời này không có gì hoàn hảo cả. Cũng như thiên hạ không bao giờ công bằng trong những lời nhận xét cả tốt lẫn xấu. Bạn hãy thử tìm kiếm xem có một vĩ nhân, một anh hùng hay thậm chí một vị Thánh nào đó mà không bị lời nói xấu không.Không một ai thoát khỏi lời thiên hạ thị phí cả, ngay cả Đức Phật, Chúa Giê Xu,. Thánh Ala... cũng bị như vậy khi còn sống lẫn cả khi đã qua đời. Vậy bạn có muốn hơn cả những bậc thần thánh  như vậy không mà chấp nhặt những lời thiên hạ nói xấu mình..

Hãy nhớ rằng những người nói xấu mình bao giờ cũng ở dưới mình, vì người ta thường kiếm lỗi để nói xấu với những người cao hơn họ, tài giỏi hơn họ, thông minh hơn họ, giàu sang hơn họ...Tóm lại người bị nói xấu luôn ở cao hơn người nói xấu. (như một ví dụ gần đây ở ngay trong FB này, khi có rất nhiều người a dua vào "ném đá" tàn tệ với ns Nguyễn Chánh Tín, hay với đd Lê Hoàng vì những chuyện cỏn con...thì cũng có rất nhiều người đã chứng tỏ rằng họ không ở thấp hơn những người đang bị ném đá bằng cách không tham gia vào cuộc chơi "ném đá" của những người thấp hơn tất cả)

Hãy nhớ rằng những người nói xấu luôn ở sau lưng mình, vì nói xấu...sau lưng mà.

Hãy nhớ rằng nói xấu, thị phi thì kẻ nói nghe thấy chứ người nghe không nghe thấy.

Hãy nhớ rằng, dù người ghét ta và nói xấu ta có nhiều bao nhiêu đi nữa thì cũng chỉ là số nhỏ trong số người  yêu mến ta và nói những điều tốt về ta..

Đối với tiếng thị phi trong thế gian nên bình tâm suy xét, đừng nên vội tin nghe. Cấp trên nghe lời thị phi thì nhân viên bị hại. Cha mẹ tin nghe lời thị phi thì con cái bị ruồng bỏ. Vợ chồng tin nghe lời thị phi thì gia đình ly tán. Bạn bề nghe lời thị phi thì tan rã mà hận thù...Vì tiếng thị phi của thế gian nọc độc còn hơn rắn rết, bén hơn gươm đao, giết người không rướm máu...và chỉ kẻ khờ khạo mới dùng lời thị phi nói xấu, và chỉ có kẻ ngu xuẩn mới tin lời thị phi nói xấu...

Cho nên cứ thanh thảnh ung dung tự tại mà vui sống, dù có bị lời thị phi nói xấu hay không...

Mai Tú Ân

6/9/14

Để Đạo và Đời cùng song hành tiến tới một quốc gia dân chủ...

Việc Hội Nhà Báo Độc Lập đang có chuyện lùm xùm, cũng như Ban VĐTL Văn Đoàn Độc Lập cũng bị chuyện lùm xùm, khi có người rút lui... ta thấy rõ một điều rằng, những tổ chức XHDC ...này rất dễ bị tổn thương...Đấy chỉ là những chuyện nhỏ, bình thường trong một đời sống dân chủ của chính họ, chứ chưa gặp phải muôn ngàn mưu ma chước quỉ của các thế lực không muốn cho họ tồn tại, thì liệu họ có tồn tại đúng nghĩa, đúng với mục đích tốt đẹp ban đầu hay không...

 

  Nhìn rộng ra thì ta cũng thấy dường như đó là một điểm yếu căn bản, đặc trưng cho những tổ chức dân sự phát sinh từ thời thế này. Các tổ chức, đã đang và sẽ thành lập, đều xuất phát từ nhiệt huyết nhưng thiếu tổ chức, thiếu minh quân, đều yếu, rời rạc, có ít nhiều dính dáng đến chế độ, thiếu lớp trẻ, thiếu một sợi dây gắn kết bền chặt, sống chết giữa các thành viên, thiếu sức mạnh đoàn kết của một tổ chức đoàn thể đúng nghĩa để có thể đứng vững trước sóng gió, phong ba... Các tổ chức bên ngoài thì xa lạ và không có chỗ dựa trong quốc nội, cũng như không thống nhất, chia rẽ hoặc cực đoan quá...khó hoặc không thể hoạt động hợp pháp, dể bị đổ vạ và đặt ngoài vògng pháp luật như Việt Tân chẳng hạn...Và tất cả các tổ chức hội đoàn trên có vẻ như là con mồi hơn là một đối thủ ngang tầm với Đảng CS trong cuộc đấu tranh không tiếng súng đòi dân chủ hiện nay..
Một hội đoàn, hay tổ chức XHDC nếu muốn hữu dụng thì có nhiều người có tài, có tâm...chưa đủ. Hội đoàn đó ngoài thế mạnh riêng đặc trưng của mình thì cần phải có những thế mạnh chung để hấp dẫn, lôi cuốn quần chúng, có tiếng nói và sức mạnh của đa số người dân chứ không chỉ sức mạnh trong hội đoàn của mình. Hội đoàn ấy phải có tổ chức, có mục tiêu, có người có phẩm chất lãnh đạo để lãnh đạo, có người có tài tổ chức để tổ chức....Hội ấy phải có uy tín và có bề dày hoạt động, được đông đảo người dân trong và ngoài nước ủng hộ cũng như có mối liên kết rộng khắp của mình, có khả năng hiệu triệu và trở thành một lá cờ dẫn dắt cho tất cả...Cũng như có một sức mạnh nội lực đủ để đứng vững trước mọi sóng gió, mọi mưu ma chước quỉ và là đối trọng xứng đáng với chính quyền trong việc dẫn dắt công cuộc đấu tranh hòa bình, bất bạo động để đòi hỏi các quyền tự do cơ bản cho người dân, cũng như bảo vệ những người đấu tranh dân chủ trong các vụ án bất công vừa qua...Và là sức hút, cũng như là chỗ dựa cho những người có tâm, đồng chí hướng...
Và không tổ chức hội đoàn XHDC nào hiện nay có đủ các tiêu chuẩn ấy bằng các tổ chức Tôn Giáo đáng kính của dân tộc như : Thiên Chúa Giáo, Phật Giáo, Phật Giáo Hòa Hỏa, Cao Đài...Ngoài những ưu thế hiển nhiên như đã nói ở trên, còn có sự đối kháng truyền thống, cùng các mâu thuẫn không thể dung hòa với toàn trị, phản dân chủ cùng những quyền lợi đã và đang bị đè ép, thì không có lý gì các tổ chức tôn giáo đáng kính này không song hành, không đứng lên dẫn dắt chung cho tất cả các lực lượng đòi dân chủ...
Tôn giáo nào cũng ở trong lòng dân tộc chứ không thể đứng riêng biệt, không thể vô can trước mọi biến thiên của dân tộc. Không thể không nhận lấy trách nhiệm lịch sử trước dân tộc như một lá cờ dẫn dắt, hay một ngọn đuốc soi đường...
Với truyền thống tốt đẹp khi Đạo và Đời bền chặt nhau trong lịch sử thì đây là lúc mọi tôn giáo, người lãnh đạo tôn giáo hãy đón nhận sứ mệnh lịch sử, hành động để Đạo và Đời được song hành bền vững trên một đất nước Việt Nam tự do dân chủ vững bền...
Mai Tú Ân

5/9/14

Hai sai lầm lớn nhất trong sự nghiệp của Chủ Tịch Hồ Chí Minh...



MTA nói với nhà tư tưởng, nhà thơ M.K.Thành Đạt :
- Nhân ngày mất của ông Cụ, xin anh có vài lời...
Đại ca vuốt chòm râu nhẵn thín,không có một sợi rồi cả cười lên tiếng :
- Chủ tịch Hồ Chí Minh là một lãnh tụ kiệt xuất, một vĩ nhân không thể chối cãi của Việt Nam, và của cả thế giới...là Cha già của dân tộc...Cuộc đời Người như một mặt giời chói lóa, không một tì vết...
- Vậy thì những quyền biến kinh thiên động địa, những vụ thanh trừng đẫm máu...
- Không biết có thật không, nhưng nếu có thật thì cũng phải thôi. Vì trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng như thế thì Ông Cụ phải sắt đá. Không thì sống cũng không nổi đừng nói chi tới làm nên nghiệp lớn..
- Kể cả mấy vụ...mấy vụ...vợ con....
- Không biết thế nào nhưng nếu có thật thì cũng là điều bình thường. Chuyện nhỏ như con thỏ ăn cỏ...Trên thế giới lãnh tụ nào chả như thế. Càng vĩ đại thì lại càng...như thế.
- Vậy là Bác Hồ của chúng ta chói sáng như một mặt trời không chút tì vết rồi...Sướng quá..
- Khoan, nhưng Bác đã phạm phải hai sai lầm rất nặng. Sai lầm thứ nhất là sau khi mất đã để sự nghiệp vĩ đại của mình cho một lũ con cháu bất tài, ác độc tranh quyền đoạt vị tùm lum...
- Ôi, giời...ghê thế cơ à. Thế còn sai lầm thứ hai...
- Sai lầm thứ hai này còn nặng hơn sai lầm trước. Đó là khi thấy lũ con cháu mặt sắt đen sì của mình tự tung tự tác, phá tán sự nghiệp...mà ở trên trời cao cùng với cụ Mác, cụ Lê Nin, vậy mà Bác đã không về để vật chết mấy đứa con cháu trời đánh đó đi để dân ta được nhờ...
- Ừ, nhỉ...Vậy mong cho Bác hiển linh...
MTA

4/9/14

Nền độc lập của xứ Nam Kỳ Tự Trị...


Miền Nam Việt Nam, là xứ thuộc địa thời Pháp thuộc do những yếu tố lịch sử để lại nên có rất nhiều sự khác biệt, từ chính trị, văn hóa , xã hội...với các miền Bắc (xứ Bảo Hộ) và miền Trung là do Triều đình Huế cai quản trên danh nghĩa.


Thời Pháp thuộc đây là vùng đất và người giàu có hơn hai miền còn lại. Triều đình Huế không có quyền gì ở vùng đất trù phú này, luật pháp thoáng mở, dân tình phóng khoáng, (rất nhiều người có quốc tịch Pháp, hoặc gốc Pháp sinh sống) đất rộng, người thưa...Chế độ chính trị, đặc biệt là tự do báo chí gần như giống nước Pháp nên rất thoáng và cởi mở...

Khi tình hình căng thẳng ở Đông Dương tăng lên do việc nước Pháp ở chính quốc đã đầu hàng Đức Quốc Xã, quân Nhật tràn vào Đông Dương thì  rất nhiều người, đặc biệt là giới điền chủ giàu có ở vùng này ủng hộ việc Nam Kỳ tự trị. (như câu chuyện Công tử Bạc Liêu, Bạch, Hắc công tử nói về sự giàu có này). Nên khi Việt Minh giành độc lập thì ở Sài Gòn, được sự giúp đỡ của người Anh, các dân Pháp vũ trang, cùng với lực lượng nhỏ quân Pháp De Gaul đã bí mật vào Sài Gòn, hoặc được người Anh phóng thích khỏi các nhà tù Nhật (chưa có quân đội Pháp), họ đã giành lại chính quyền. Và đẩy lực lượng của Việt Minh và thân Việt Minh ra khỏi thành phố SG vào ngày 23/9/1945. Đó trở thành ngày Nam Bộ Kháng Chiến với bài hát : 

"Mùa Thu này, ngày 23 ta ra đi sơn hà nguy biến..."

Tháng 10/1945, quân đội Pháp đã chính thức vào tái chiếm Nam Bộ trở lại. Dựa vào thực lực này, ngày 1/6/1946 những người đòi độc lập cho xứ Nam Kỳ đã tuyên bố độc lập bằng một cuộc tuần hành và mít tinhh trước cửa nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn. 

Tuyên bố tên chính thức Cộng Hòa Tự Trị Nam Kỳ (tiếng Pháp: République autonome de Cochinchine) Và quốc gia này ở trong khối Liên Hiệp Pháp, lẫn trong Liên Bang Đông Dương. Thủ Tướng đầu tiên là ông Nguyễn Văn Thinh. Lá cờ quốc gia là lá cờ vàng ba sọc xanh (xem hình). Ba sọc xanh trên lá cờ hàm ý về ba con sông Đồng Nai, Tiền Giang, Hậu Giang ở xứ Nam Kỳ này. Các thành viên nội các đều có Quốc Tịch Pháp, nên những buổi họp của chính phủ này thường nói tiếng Pháp nhiều hơn. Và thành phố Sài Gòn cũng lần đầu tiên được chọn làm Thủ đô của Nam Kỳ Tự Trị...

Bản đồ Đông Dương thời Pháp

Nền độc lập của xứ Nam Kỳ này tồn tại cho đến năm 1948, khi tự ý giải thể để sát nhập vào Quốc Gia Việt Nam mới do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu. Trong 2 năm trời tồn tại, chính quyền của nền độc lập này đối lập với chính phủ VN DCCH của chủ tịch Hồ Chí Minh, đối lập với Ủy Ban Kháng Chiến Nam Bộ do gs Trần Văn Giàu. Đây cũng là một thời hỗn loan, với các sứ quân nắm giữ các vùng khác nhau như :

Trần Văn Soái (Năm Lửa) chiếm đóng Cái Vồn (Cần Thơ), Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán) giữ Cái Dầu (Châu Đốc), Lê Quang Vinh (Ba Cụt) Hòa Hảo giữ Thốt Nốt (Long Xuyên), Nguyễn Giác Ngộ đặt bản doanh ở Cao Lãnh (Kiến Phong), Cao Đài cát cứ ở Tây Ninh và Bình Xuyên của Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) định doanh ở Chánh Hưng (Chợ Lớn). Đó là chưa kể đến các tổ chức chính trị như Việt Minh, Đại Việt, v.v. Người Pháp cung cấp tài chính và vũ khí cho các nhóm này, trên danh nghĩa là giữ an ninh, nhưng chủ ý là chống lại lực lượng Việt Minh. Những nhóm này thường xung đột, tranh giành quyền lực khiến tình hình thêm hỗn loạn...

Đây cũng là thời điểm mà các anh hùng Bình Xuyên, như Dương Văn Dương, Bảy Viễn tả xung hữu đột chống Pháp. Cũng như các giáo phái yêu nước như Cao Đài, Hòa Hảo...tụ quân chống Pháp và Nam Kỳ tự trị..cũng như chống lại với cả Việt Minh. Sau đó, khi Nam K y Tự Trị giải thể và sát nhập với Quốc Gia VN thì họ mới thôi chống đối và gia nhập quốc gia mới. Đây cũng là thời điểm Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ, người sáng lập ra Phật Giáo Hòa Hảo bị chết đầy bí ẩn ngày 16/4/1947 (nghi vấn do VM giết)

Đây cũng là thời điểm mà sử sách văn học hay viết về những nhân vật nổi bật như trung tướng Nguyễn Bình, bí thư Lê Duẩn, Bảy Viễn, và vị tướng, nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ với bài thơ bất hủ  Nhớ Bắc,  với những câu thơ rung động tận đáy lòng những đứa con đi xa của Đất Bắc..

Ai về Bắc, ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng...
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long...

Và rồi cuối cùng, ngày 2/6/1948, trước sức ép của người Pháp thì thủ tướng cuối cùng của nền độc lập này, bác sĩ Nguyễn Văn Xuân đã cùng với các thành viên nội các của Nam Kỳ Tự Trị đã tuyên bố tự giải thể chính quyền trong một buổi lễ đơn giản và sát nhập bình yên với chính phủ Quốc Gia do Quốc trưởng Bảo Đại vừa mới thành lập. Có thể nói cùng với Đế Quốc Việt Nam thời Vua Bảo Đại, thì nền độc lập của Nam Kỳ Quốc này cũng mau chóng không tồn tại chỉ sau 4 năm. Nhưng cũng như hai nền độc lập non trẻ này, cùng với các chính phủ toàn là những bậc trí thức tên tuổi muốn ra giúp đời mà không màng đến danh lợi, bổng lộc và họ sẵn sàng ra đi nhường  chỗ cho những chính phủ sau chớ không cố sống cố chết bám lấy quyền lực. 
Nền độc lập non trẻ Nam Kỳ Độc Lập đã không còn, nền độc lập "Salong" của những người trí thức, học giả muốn được cống hiến cho nền độc lập của nước nhà. Có thể họ ngây thơ vụng dại với kẻ thù , có thể những ước mơ của họ quá lớn lao so với thực tế đen buồn của Quốc Gia Hưng Vong, Thât Phu Hữu Trách...Và khi cần phải ra đi thì họn ra đi đàng hoàng đĩnh đạc, ngẩng đầu lên giữa ánh sáng mặt trời. Không cần phải có những cuộc cách mạng long trời lở đất, đầu rơi máu chayr và cũng không phải giết ai để cướp chính quyền. Nhưng hai cái chính quyền ấy chẳng phải  để ai lật đổ  cả.

Mà chính họ đã trao chính quyền lại cho người lớp sau với niềm tin như trao đi cái trách nhiệm cao cả, cũng như trao cho ngọn cờ lãnh đạo của với niềm tin rằng, họ ra đi thì tốt hơn cho dân tộc Việt Nam hơn

MTA

2/9/14

Nhớ về một nền độc lập đầu tiên bị bức tử...

Không phải đến ngày 2/9/1945 nước ta mới giành độc lập lần đầu tiên sau gần 100 năm nô lệ. Sự thật thì đất nước Việt Nam chúng ta đã được độc lập lần đầu tiên trước đó mấy tháng, vào ngày 11/3/1945, khi Vua Bảo Đại tuyên cáo nền Độc Lập trên toàn cõi Việt Nam. 


Vì trước đó ít ngày, mùng 9/3/1945 Quân đội Nhật đã bất ngờ tấn công người Pháp trên toàn cõi Đông Dương, bằng một cuộc chém giết kinh hồn và lật đổ bộ máy cai trị của người Pháp. Và họ đã mau chóng trao trả độc lập cho Việt Nam, chỉ với điều kiện là phải ở trong khối Đại Đông Á của Nhật. Ngoài ra thì được trao trả với đầy đủ quyền hành chính trị của một QG độc lập. Thậm chí nền độc lập Quân Chủ Lập Hiến đầu tiên này của chúng ta còn từ chối quyền thành lập Quân Đội Quốc Gia (BQP) mà người Nhật đã trao vì sợ phải chiến đấu cùng người Nhật chống lại Đồng Minh. Và đó cũng chính là nguyên nhân chết yểu của nền độc lập này khi bị Việt Minh lật đổ. Họ không có quân đội để bảo vệ chính quyền non yếu của mình khi người Nhật đã đầu hàng Đồng Minh và bị giải giáp...
Dưới sự đứng đầu của vua Bảo Đại và một chính phủ đầu tiên của Việt Nam được thành lập. Quốc hiệu đất nước có cái tên rất hoành tráng là Đế Quốc Việt Nam. Lá cờ chính thức là cờ Quẻ Ly (xem hình) và đây cũng là lá cờ tiền thân cho lá cờ vàng ba sọc đỏ, mà sau đó ba thể chế chính quyền không CS đã dùng làm lá cờ QG. Đó là lá cờ QG do Bảo Đại làm quốc trưởng. 1949-1955. Cờ của Đệ Nhất Cộng Hoà 1955-1963 (TT Ngô Đình Diệm) và Đệ Nhị Cộng Hòa (VNCH) 1963-1975...
Đây là một nền độc lập với thể chế nghị viện và Hoàng gia chỉ là hình thức kiểu như của các nước Nhật, Anh quốc, Thái Lan...Cũng nói thêm đây chính là lúc đất nước được độc lập với tất cả lãnh thổ QG rộng lớn nhất, bao gồm cả Hoàng Sa...điều mà khó có chính quyền nào sau này tự hào hơn được...
Về vị Thủ Tướng đầu tiên của chính quyền này thì thoạt đầu vua Bảo Đại đã mời nhà chí sĩ Ngô Đình Diệm đứng ra lập chính phủ (TTg) nhưng ông Diệm đã từ chối, và đã trở thành vị Thủ Tướng đầu tiên là nhà sử học Trần Trọng Kim, đứng đầu một chính phủ gồm toàn những trí thức, học giả danh tiếng thời đó như :
Trần Đình Nam, Bác sĩ Bộ trưởng Nội vụ.
Trần Văn Chương, Tiến sĩ Luật, Bộ trưởng Ngoại giao.
Trịnh Đình Thảo, Tiến sĩ Luật, Bộ trưởng Tư pháp.
Vũ Văn Hiền, Tiến sĩ Luật, Bộ trưởng tài chính.
Hoàng Xuân Hãn, Giáo sư, Bộ trưởng giáo dục.
Vũ Ngọc Ánh, Bác sĩ, Bộ trưởng Y tế.
Lưu Văn Lang, Kỹ sư bách nghệ Bộ trưởng Công chính, .
Nguyễn Hữu Thi, Bác sĩ, đại thương gia, Bộ trưởng tiếp tế.
Phan Anh, Luật sư, Bộ trưởng Thanh niên.
Ngoài ra còn có nhiều nhà trí thức có tiếng tăm cùng tham gia chính quyền như : Phan Kế Toại (Khâm sai Bắc bộ), Bác sĩ Trần Văn Lai (Thị trưởng Hà Nội), Giáo sư Nguyễn Lân (Thị trưởng Huế), Phó bảng Đặng Văn Hướng (Tỉnh trưởng Nghệ An), Phó bảng Hà Văn Đại (Tỉnh trưởng Hà Tĩnh), Giáo sư Đặng Thai Mai (Tỉnh trưởng Thanh Hóa)… Các ông Hoàng Đạo Thúy, Tạ Quang Bửu, Trần Duy Hưng, Nguyễn Xiển, Vũ Văn Cẩn, Ngụy Như Kontum....
Mặc dù tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi, nhưng chính phủ này cũng đã làm được một số việc quan trọng như : tuyên bố nước Việt Nam đôc lập, và hủy bỏ Hiệp ước Bảo hộ 1884 (Hòa ước Patenôtre). Thành lập Đế quốc Việt Nam, thống nhất về mặt danh nghĩa, đưa đất Nam Kỳ trở lại với nguồn cội Việt Nam. Thay chương trình học bằng tiếng Pháp chuyển sang học bằng tiếng Việt. Hành chánh được cải tổ với việc dùng chữ Việt trong tất cả các giao dịch của chính phủ..
Mặc dù trước đó một ngày, ngày 18/8/1945 chính quyền của nền độc lập đầu tiên này, sau khi chứng kiến người Nhật đầu hàng Đồng Minh đã ra tuyên bố với thê giới là họ chính thức Thoát Nhật, rời khỏi khối ĐĐÁ, nhưng vẫn không thoát khỏi bị tiêu diệt. 
Ngày 19/8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa do VM dẫn đầu đã thành công khi tận dụng sự vắng mặt của người Pháp, Nhật cũng như sự yếu ớt của một chính quyền dân sự gồm toàn những nhân sĩ trí thức trên. Còn ở Huế, dù Việt Minh chưa cướp được chính quyền nhưng Vua Bảo Đại, cùng các cận thần thân tín luôn tỏ ra lo sợ VM một cách thái quá nên mặc dù vẫn nắm đội ngự binh thì cũng chỉ biết đóng chặt cổng Ngọ Môn, bỏ mặc bên ngoài cái thành phố, đất Thần Kinh mà người dòng họ Nguyễn hoàng tộc đông ngang ngửa với số dân còn lại. Và lúc này nước sắp mất thì mới thấy tôi trung. Hoàng đế của Đế Quốc VN luôn bị kẻ cận thần số 1, và cũng là kẻ phản thần số 1 Phạm Khắc Hòe, Đổng lý ngự tiền văn phòng triều Bảo Đại, đã theo lệnh VM để nhỏ to đe dọa, gây sức ép...Thậm chí lấy cả số phận thảm khốc của vua Lui 16 và hoàng hậu Maria Antoannete thời CM Pháp 1789 ra để làm cho ông vua khiếp sợ...Và thế là vua Bảo Đại, đã tự nguyện trở thành vị vua cuối cùng của triều đại Nguyễn lừng lẫy khi ra chiếu tuyên bố thoái vị ngày 24/8/1945 và toàn cõi VN đã tuân theo. Trong chiếu thoái vị đọc trước vài vị đại diện VM, vừa từ HN vào có đoạn như sau :
"Đáp ứng lời kêu gọi của Ủy ban CM, tôi sẵn sàng thoái vị. Trước giờ quyết định này của lịch sử quốc gia, đoàn kết là sống, chia rẽ là chết. Tôi sẵn sàng hy sinh tất cả mọi quyền lợi, để cho sự đoàn kết được thành tựu, và yêu cầu đại diện của Ủy ban (Việt Minh) sớm tới Huế, để nhận bàn giao
Thấy cũng giông giống như lời tuyên bố đầu hàng của TT VNCH Dương Văn Minh ngày 30/4/1975 sau này , cũng kêu gọi anh em binh lính VNCH buông súng để đợi...bàn giao. Cũng chính kẻ cận thần của vua BĐ, ông Đổng lý PKH thảo chiếu thoái vị, với câu nói nổi tiếng 
"Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị"
Câu này cũng giông giống câu nói 30 năm sau của Đại Tướng Đầu Hàng, Big Minh sau khi hàng : 
"Riêng cá nhân tôi thì hôm nay tôi rất hân hoan khi được 60 tuổi, trở thành một công dân của một nước Việt Nam độc lập”. 
Còn ông Đổng lý PKH thì ngay sau đó được tưởng thưởng cho hành động bán vua của mình bằng việc cũng được giữ chức Đổng lý, nhưng là Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ của Chính phủ VN DCCH....
Và thế là Đế Quốc Việt Nam đã chết yểu chỉ sau vài tháng, cũng như nền độc lập đầu tiên cũng tức tưởi chết theo. Để rồi từ đó đất nước chúng ta rơi vào cảnh chiến tranh, huynh đệ tương tàn, chia cắt và thống khổ điêu linh suốt bao nhiêu năm như thế nào thì mọi người đều đã biết...
2/9/2014
Mai Tú Ân

1/9/14

Không cần phải thần thánh hóa một con người không phải là thần thánh...

 Nhân ngày mất của Chủ Tịch Hồ Chí Minh xin có vài lời...Dù đây là một nhân vật có nhiều ý kiến trái ngược nhau nhất trong lịch sử Việt Nam, nhưng phải thừa nhận ông là một người Việt Nam tên tuổi nhất trên thế giới, là người khai sinh ra nước Việt Nam hiện nay và là một Con Người Việt Nam Vĩ Đại Nhất trong lịch sử Việt Nam của mọi thời đại...
Và với những danh xưng như thế, thì có gì mà lớp hậu thế, của ông cứ phải giấu giấu diếm diếm những chi tiết về sự nghiệp của ông khi ông đã qua đời nhiều chục năm rồi. Cũng chính vì cứ giấu diếm như thế mà cuộc đời và sự nghiệp của ông cứ bị ngả nghiêng, bị phóng đại hoặc bị bôi bác tùy theo vị trí của người phóng đại hay bôi bác...
Vì sao tên tuổi lừng lẫy cùng sự nghiệp bôn ba khắp thế giới làm cách mạng như ông cứ bị đem ra soi xét, đả phá...khi ông đã xuôi tay an phận ở một cõi Tây Phương Cực Lạc nào đó từ lâu rồi. Không hẳn là chỉ do những kẻ đả phá soi xét ông, mà còn do những người kế thừa của ông, vì những động cơ riêng đã cố gắng phủ vàng lên hình tượng của ông, tạo dựng huyền thoại đầy chất linh thiêng thần thánh lên tên tuổi của ông...và bất thành.
Vì ông không phải là thần thánh. Vì thần thánh thì không làm những việc như ông đã làm, và cũng không làm được những việc như ông đã làm...Cuộc đời bôn ba khắp thế giới để làm cách mạng rồi đem cách mạng về xứ sở, giành độc lập và làm chủ tuyệt đối đất nước cho đến khi nhắm mắt thì ông không thể là một con người Cứu Nhân Độ Thế như Thánh Thần được. Và một sự nghiệp lẫy lừng ngự trị trên một khúc quanh lịch sử tang thương, một thời kỳ chia cắt, chém giết đẫm máu của dân tộc...và cuối cùng thì là người giành thắng lợi cuối cùng thì ông không thể là người hiền, đức, tâm tánh như Phật được.
Phải là người có chí lớn, cương quyết, mạnh mẽ, sắt đá hơn người và thậm chí thủ đoạn, quyền biến hơn người thì ông mới trở thành con người như thế giới đã biết, đã kính phục như bây giờ...
Và ông đã thành công khi tay không lấy nghiệp lớn, trở thành người khai sinh ra nước VN này...với tư cách của một nhà lãnh tụ CM kiệt xuất, nhưng cũng là một con người, với ý nghĩa con người thì cũng có những lỗi lầm như mọi con người bình thường khác. Và khi không còn một chút giấu diếm về cuộc đời và sự nghiệp của ông, cũng như không còn những ý muốn thần thánh cá nhân ông của những người kế nghiệp ông nữa thì với tư cách là một con người, với những thành tựu hơn người mà ông đã đạt được thì ông xứng đáng trở thành một Cha Già Dân Tộc trong lòng của số đông người VN chúng ta rồi...
Mai Tú Ân
 
facebook.com/maituansg

Bí ẩn về những thước phim quay Lễ Độc lập mùng 2/9/1945 - Đạo diễn Đặng Nhật Minh...

 Những thước phim vô giá có tên “Ngày Độc lập 2/9/1945” ghi lại hình ảnh chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập đã đi vào tâm khảm người Việt Nam. Nhưng ít ai biết đằng sau thước phim đó có những câu hỏi chưa có lời giải đáp.


Đạo diễn Đặng Nhật Minh
Đạo Diễn Đặng Nhật Minh

Tạp chí Nghệ thuật Điện ảnh số 6/1990 có đăng một bài viết của nhà báo Trung Sơn với tựa đề “Ai là người ghi hình phim ngày Tết Độc lập 2/9/1945?”. Bài viết đó cho biết một chi tiết khá lý thú liên quan đến đoàn làm phim “Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh” của đạo diễn Phạm Kỳ Nam làm năm 1975.
Sau một thời gian quay ở Paris, trước khi đoàn trở về nước, đạo diễn Phạm Kỳ Nam bất ngờ được lễ tân khách sạn chuyển đến một hộp các tông được bọc kín. Khi trao chiếc hộp này, người gửi chỉ nhờ lễ tân khách sạn nhắn với đạo diễn Phạm Kỳ Nam rằng đây là quà tặng của một người bạn của Việt Nam rồi lẳng lặng đi mà không cho biết tên tuổi.
Đem lên phòng khách sạn mở ra, đạo diễn Phạm Kỳ Nam hết sức ngạc nhiên khi nhận ra món quà đó là những hộp phim 16 ly với những hình ảnh đen trắng ghi trọn vẹn ngày lễ Tuyên bố Độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày mùng 2/9/1945.
Những thước phim về buổi lễ đó với hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước đông đảo đồng bào trên quảng trường Ba Đình ngày ấy đã được ráp nối lại để thành một bộ phim tài liệu dài 30 phút có tên “Ngày Độc lập 2/9/1945”. Bộ phim đã trở nên rất đỗi thân thuộc đối với mỗi người Việt Nam mà ngày nay chúng ta vẫn thường được xem trên màn ảnh nhỏ mỗi dịp quốc khánh.
Khi về làm Tổng thư ký Hội Điện ảnh Việt Nam (1989-2000) kiêm Tổng biên tập Tạp chí Nghệ thuật Điện ảnh (cơ quan ngôn luận của Hội Điện ảnh), tiền thân của tờ Thế giới Điện ảnh hiện nay) tôi (Đạo diễn Đặng Nhật Minh) rất quan tâm đến nội dung được thông tin trong bài báo của nhà báo Trung Sơn. Tôi rất muốn tìm ra ai là người quay những thước phim trên.
Năm 1990, nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày Quốc khánh, tôi bàn với anh Trung Sơn và anh em trong tòa soạn tạp chí Nghệ thuật Điện ảnh phát động một cuộc điều tra để tìm hiểu ai là tác giả của những thước phim kia.
Lúc đó, tôi chỉ nghĩ đơn giản là mời những người có trách nhiệm có mặt trong buổi lễ ngày hôm đó viết bài đăng trên tạp chí là có thể tìm ra đầu mối một cách dễ dàng, chắc nó không xa quá tầm tay.
Vậy là chúng tôi tìm đến các nhân chứng lịch sử liên quan đến sự kiện ngày 2/9/1945 để mời viết bài. Trong các nhân vật được mời viết có Tướng Trần Độ (Thứ trưởng Bộ Văn hóa khi đó), Đạo diễn Phạm Văn Khoa (người được giao nhiệm vụ dựng lễ đài), Nhiếp ảnh gia Vũ Năng An (người chụp bức ảnh nổi tiếng “Bác Hồ ở chiến dịch Đông Khê”)… và đặc biệt là ông Nguyễn Hữu Đang – người được Bác Hồ giao trách nhiệm làm Trưởng ban tổ chức Lễ Tuyên bố Độc lập ngày 2/9/1945.
Qua sự giúp đỡ của nhà văn Phùng Quán, chúng tôi tiếp cận được với ông Đang với lời đề nghị giải đáp giùm câu hỏi: Ai là người quay phim có mặt hôm đó tại vườn hoa Ba Đình. Không lâu sau, nhà văn Phùng Quán đem đến tòa soạn một bài viết tay với tựa đề “Những điều còn bí ẩn quanh việc quay bộ phim Ngày Độc lập 2/9/1945”, ký tên Nguyễn Hữu Đang.
Qua bài viết này, chúng tôi được tiếp cận với hai nguồn giả thiết về “chủ nhân” bí ẩn của những thước phim kia.
Giả thiết đầu tiên là cuốn phim này được quay bởi ông Hương Ký (tên thật là Nguyễn Lan Hương) – chủ hiệu ảnh nổi tiếng nhất tại Hà Nội khi đó. Đây là một nhân vật có tiếng trong việc đam mê làm phim, chụp ảnh và làm những dịch vụ về quay phim tư liệu.
Ông Nguyễn Hữu Đang đã gặp ông Hương Ký, yêu cầu ghi hình buổi lễ quan trọng này. Tại vườn hoa Ba Đình hôm ấy, hai nhân viên chụp ảnh và quay phim của hiệu ảnh Hương Ký được ông Nguyễn Hữu Đang cấp giấy phép đi lại để tác nghiệp ở những khu vực cho phép. Nhưng cuối cùng ông Hương Ký thông báo không quay được vì sự cố máy móc.
Ông Nguyễn Hữu Đang viết về sự cố này với thái độ hết sức hoài nghi: “Độ một tuần lễ sau Ngày Độc lập không thấy Hương Ký cho biết kết quả quay phim, tôi đến hỏi thì được trả lời là không quay được vì máy trục trặc. Một sự thất bại dường như hoàn toàn do khách quan, không ai chịu trách nhiệm. Tôi bình tĩnh chấp nhận sự rủi ro. Nhưng chỉ ít ngày sau quân Tàu Tưởng đưa bọn Vũ Hồng Khanh về và âm mưu lật đổ chính quyền, thì ông chủ hiệu Hương Ký liền theo Quốc Dân đảng chống lại Việt Minh. Lập tức tôi nghi ngờ ông ta đã không thật lòng, đã không quay phim rồi đổ lỗi cho cái máy – nó không biết cãi”.
Tuy nhiên, cũng có những căn cứ để nhiều người tin vào giả thiết những thước phim này là do hiệu Hương Ký quay. Cứ liệu rõ nhất về giả thiết này là dựa vào một tấm ảnh do ông David Marr, một nhà nghiên cứu sử học Úc gốc Mỹ, cung cấp và theo ông bức ảnh cũng do người Mỹ chụp (công bố trong cuốn sách“Why Vietnam?”,bản gốc tiếng Anh).
Đây là một tấm ảnh với góc chụp từ dưới hướng lên lễ đài, chụp Chủ tịch Hồ Chí Minh đang đọc Tuyên ngôn Độc lập, đứng bên phải Cụ có một người cầm ô và đáng chú ý là từ phía bên trái có một người đang cầm máy quay phim hướng ống kính về phía Bác Hồ.
Góc quay này được xem là ứng với đoạn phim quay cảnh Người đọc Tuyên ngôn nhìn nghiêng mà chúng ta đã được xem. Tuy nhiên, giả thiết này lại vấp phải một câu hỏi: Vậy tại sao ông Hương Ký không giao lại cuốn phim ngay sau đó cho Ban tổ chức mà đem giấu nó đi? Không ai giải thích được lý do khiến cho giả thiết này vẫn mãi là một dấu chấm hỏi.
Giả thiết thứ hai, tôi thấy ông Nguyễn Hữu Đang nghiêng về suy đoán này nhiều hơn. Và qua những lần cất công tìm hiểu một số đầu mối khác, tôi nhận ra đây có thể là một hướng tìm hiểu có luận cứ rõ ràng hơn cả.
Ông Nguyễn Hữu Đang lập luận cho giả thiết này như sau: “Khả năng này chỉ mới xuất hiện gần đây trong đầu tôi khi đọc trên một tờ báo, đoạn hồi ký của tướng Archimedes L.A. Patti nguyên trưởng phái đoàn Mỹ đến Hà Nội dưới danh nghĩa Đồng minh liền sau Tổng khởi nghĩa của ta thắng lợi. Ông tường thuật cuộc mít-tinh khổng lồ ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình với những chi tiết hết sức đúng, có cả những chi tiết từ trước tới nay, sách báo ta chưa nhắc đến lần nào.
Sự mô tả chính xác chứng tỏ ông và một số nhân viên của ông đã chứng kiến buổi lễ, đã đi lại trong khu vực mít-tinh để như ông kể – chụp ảnh và quay phim. Thật bất ngờ đối với tôi, kẻ mang nặng trên vai trách nhiệm điều hành buổi lễ và kiểm soát cuộc mít-tinh mà không biết có những hoạt động của người ngoại quốc ngay trước mắt mình”.
Tìm hiểu sâu hơn về tướng Patti và phái bộ tiền trạm OSS (bí danh Con Nai – “The Deer”) của ông, tôi được biết đây là những nhân vật đã chứng kiến buổi lễ 2/9/1945 tại Hà Nội. Đơn vị đặc nhiệm này đã được lãnh tụ Hồ Chí Minh tiếp đón và hợp tác chặt chẽ trong thời gian ở Việt Bắc. Một đại đội Việt – Mỹ đã được thành lập, tham gia vây quân Nhật tại Thái Nguyên và về Hà Nội ngay sau khi giành chính quyền không bao lâu.
Đây là số người nước ngoài hiếm hoi không cần giấy phép của ông Nguyễn Hữu Đang mà vẫn có quyền đi khắp trong quảng trường Ba Đình ngày hôm đó. Trong bài viết của mình, ông Đang có cho biết một chi tiết: Những người Mỹ này có đeo bên cánh tay trái, chỗ gần bắp vai, một mảnh vải biểu trưng lá cờ Mỹ (ecusson) to bằng nửa bàn tay. Chính miếng biểu trưng ấy là cái “giấy thông hành” giúp họ có thể đi lại tự do, và một trong những hoạt động của họ khi đó là quay phim, chụp ảnh mà không ai để ý đến.
Với con mắt nghề nghiệp, tôi thấy những thước phim trên được quay bởi tay máy rất chuyên nghiệp. Và điều đặc biệt là những thước phim này được ghi hình từ nhiều góc độ khác nhau chứng tỏ người quay phim đã di chuyển liên tục trong khi quay để quan sát rồi ghi lại chứ không phải chỉ cầm máy đứng yên một chỗ.
Những toàn cảnh lia biển người trên quảng trường Ba Đình, hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trên lễ đài, những chân dung nam nữ, những đặc tả bước chân người rầm rập đi trong hàng quân, những tà áo dài của các thiếu nữ Hà Nội bay phấp phới… rất xúc động và ấn tượng. Từ đây, giả thiết về việc những thước phim này được quay bởi người trong phái bộ cơ quan tình báo Mỹ có mặt hôm đó tại quảng trường Ba Đình lại càng được củng cố.
Dẫu sao đây cũng chỉ là một trong những giả thiết bên cạnh những giả thiết của những người tham gia viết các bài khác, nhưng cho đến thời điểm hiện tại thì phỏng đoán của ông Nguyễn Hữu Đang theo tôi vẫn là phỏng đoán có cơ sở nhất.
Cho dù chưa khẳng định được ai là tác giả của những thước phim trên thì vần đề còn lại của chúng ta là trách nhiệm của lương tâm. Sau một thời gian dài khai thác, sử dụng những thước phim này – những thước phim vô giá để lại cho nhiều thế hệ mai sau, chúng ta cũng cần có hình thức nào đó để biểu lộ lòng biết ơn đối với người đã ghi lại những hình ảnh có một không hai đó.
Người đó rất có thể quay xong rồi cất đi đâu đó và lãng quên hoặc tiêu hủy chúng đi vì thấy không còn cần thiết cho mục đích của mình nữa (khi quay có nghĩ đâu sẽ làm một bộ phim tài liệu?). Hoặc giả thiết khác là có thể rao bán những thước phim kia với cái giá rất cao vì biết rằng đó là những tư liệu vô giá. Nhưng không, người đó đã tìm cách trả lại cho “chủ sở hữu” đích thực của những thước phim mà mình đã quay – nhân dân Việt Nam, và trả lại một cách lặng lẽ, tế nhị, không hề mang màu sắc chính trị.
Tôi cứ nghĩ nếu người ghi lại những thước phim này là một người quay phim Việt Nam, hẳn người đó đã nhận giải thưởng Hồ Chí Minh và những phần thưởng cao quý khác từ lâu rồi (nhiếp ảnh gia Vũ Năng An chỉ với một bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại chiến dịch Đông khê đã xứng đáng nhận giải thưởng Hồ Chí Minh).
Dù chưa biết đích xác người đó là ai, người Việt, người Mỹ hay ai khác thì trên tiêu đề của bộ phim “Ngày lễ Độc lập 2/9/1945” cần ghi một dòng chữ: “Những hình ảnh trong phim này được ghi lại bởi một người quay phim ẩn danh”.
Không có những thước phim đó, hẳn không thể có bộ phim “Ngày lễ Độc lập 2/9/1945”. Tôi băn khoăn mãi về điều này, bởi trên tiêu đề của bộ phim mà chúng ta được xem cho đến nay, chỉ thấy đề tên của đạo diễn và người dựng phim.
Đã hơn 20 năm, những ẩn số liên quan đến cuốn phim lịch sử kia vẫn là một cuộc hành trình cần khám phá, dù là bám vào những manh mối rất mong manh. Hy vọng điều bí ẩn trên đây sẽ sớm có câu trả lời và một cuộc điều tra công phu như ông Đang nói là trách nhiệm của hậu thế trước lịch sử.
 
Đạo diễn Đặng Nhật Minh
(Theo Dân Trí)

Trịnh công Sơn - Khánh Ly...Đừng để mất đi những điều tốt đẹp...

Họ đã có được với nhau một thời trẻ đam mê, bây giờ người còn người mất nhưng dù gì thì cũng đừng để những điều nhỏ nhặt làm hoen ố đi hình ảnh vốn đã rất đẹp của họ...
MTA