20/11/15

Viết cho con gái - Hãy nhớ ơn thầy cô giáo...

Biết nói gì với con gái trong ngày Tôn Vinh Các Thầy Cô này nhỉ ? Khi con còn nằm trong nôi thì làm sao con biết được rằng trên đường đời từ nay cho đến khi con lớn lên thành người, đến khi con biết hẹn hò với người con trai nào đó thì con sẽ có luôn những người xa lạ, mặt khó đăm đăm sẽ là người tiếp tay cho cha mẹ để dìu dắt dậy dỗ con. Dạy cho con những điều đáng quí mà cha mẹ không thể nào dạy được. 
Cha mẹ sinh ra ta,
Thầy cô giáo dạy dỗ.
Rồi cả cha mẹ thầy cô,
Cùng dẫn dắt ta thành người …



Cha thì nhớ không quên những giây phút đầu tiên khi bà nội của con, tức là mẹ của cha đã giao cha cho một cô mẫu giáo rồi bỏ về. Lúc đó cha còn đóng bím và luôn khóc thét lên như mở máy còi tàu hỏa mỗi khi không ưng ý. Nhưng mụ phù thủy ấy đã cho cha một cái bợp tai vừa phải để cha tắt đài, rồi bỏ cha vào giữa một đống đám lít nhít quấn bím. Chúng nó đái ị đầy lên người cha, để cha biết thế nào tinh thần đồng đội. Và cái bà cô hắc ám ấy đã lôi cha vào nhà tắm xối nước và dùng chân để rửa đít cho cha khỏi các sản phẩm của cha thải ra....

Cha cũng chẳng giấu gì con khi phải nói là mấy tháng ở đó cha cũng bị bà cô giáo đầu tiên trong đời của cha đó cấu véo cho vài lần, cũng như được cô khuyến mãi cho dăm bảy roi quắn cả đít. Thế nhưng sau này mỗi khi bà của con đến đón cha về thì cha lại mở máy còi tàu, la hét đòi sống chết bám chặt lấy cái bà giáo hắc ám ấy, chứ nhất định không chịu về. Cha không biết vì sao nữa, nhưng cha nhớ cô giáo đầu tiên ấy của cha lắm, con gái ơi...

Rồi như một cái cây được chăm, được bón, cha cứ lớn lên trong vòng tay thân thương của cô giáo lớp nhỏ, thầy cô giáo lớp lớn, người trước trao cha cùng yêu thương đến người sau, người sau tiếp tay người trước để rồi lại làm công việc thiêng liêng của họ. Dạy cha bao điều phải trái, bao chữ Thánh Hiền. 

Cha đã học những môn học khác nhau, với các thầy cô tên khác nhau, mặt mũi khác nhau nhưng đều giống nhau ở sự thương yêu học trò, thương yêu cha như một đứa con vậy, Họ khác nhau nhưng đều có một tấm lòng giống nhau, muốn dạy những điều tốt đẹp cho cha của cọn đấy con gái ạ...

Thời gian qua nhanh như bóng câu qua thềm, thì giờ đây cha không còn nhớ mặt, nhớ tên những người thầy cô giáo của cha nữa, nhưng những gì các thầy cô ấy dạy dỗ thì cha lại không thể quên. Đó cũng chỉ là những chân lý giản dị để sống trên đời này, nhưng không thể không có, và không thể có nếu không có người dạy. Và đó chính là thầy cô giáo dạy ta. Dạy ta rằng, sống thì phải làm người, phải yêu cha mẹ, kính trọng ông bà tổ tiên, yêu quê hương đất nước. Những điều tưởng nhỏ nhưng không nhỏ, những điều tưởng lớn nhưng không lớn ấy cứ dường như thấm qua máu thịt cha qua những lời dạy bảo giản dị của các thầy cô ấy.

Thôi, nói nhiều con cũng không hiểu đâu, vì con cũng sẽ giống như cha thôi, những lời dạy của thầy cô giáo mình như những điều thiêng liêng lắm, mà càng lâu thì ta mới càng thấm thía, mới hiểu ra và trân trọng những con người có danh hay vô danh đó. Và cha con mình sẽ ghi nhớ mãi những con người đó vì một tấm lòng và một cái tên. Đó là các thầy cô giáo của chúng ta. 

Xã hội chúng ta có người theo đạo, có người không. Có người tôn thờ thần thánh, có người không, nhưng không ai là không tôn thờ, không biết ơn những người thầy cô giáo của mình. Chỉ có những kẻ đáng chết mới không biết điều đó.

Dù cũng có vài điều hay vài người không như ý,  thì tuyệt đại những người thầy cô ấy, cả những người dạy chúng ta lẫn không dạy chúng ta đều là những con người đáng kính trọng lắm. Hãy kính trọng họ như cha mẹ, như thánh thần…

Ấy, Không, không…Không được coi thầy cô như thánh thần vì họ không phải là thánh thần. Không coi họ như thánh thần thì chúng ta mới được gần gũi yêu thương họ như họ đã gần gũi yêu thương chúng ta, con gái ạ…

Chúc Mừng Ngày Các Nhà Giáo 20/11/2015

MTA

19/11/15

Chồng tôi - Anh Ba Sàm - đã làm gì?

Lê Thị Minh Hà



Là vợ của Anh Ba Sàm, vì hoàn cảnh sức khỏe không tốt, không chịu được điều kiện khí hậu-thời tiết miền Bắc, tôi không thường xuyên ở bên chồng tôi trong những năm qua; nhưng những gì tôi biết về ông lâu nay luôn thống nhất rằng: Ông là một người yêu nước bằng cả trái tim. Hơn thế nữa, ông là một trí thức, một blogger luôn ý thức được tầm quan trọng to lớn của mạng Internet đối với công cuộc dân chủ hóa và phát triển đất nước. Và ông đã luôn sử dụng Internet như một công cụ để thực hiện mong ước nhiệt thành của ông – “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. 

Trang mạng Anh Ba Sàm (địa chỉ hiện nay: basam.info,anhbasam.wordpress.com, basamnews.info) được thành lập năm 2007 nhằm mục đích “giải phóng bạn đọc khỏi sự nô lệ về tinh thần”, mà chồng tôi gọi tắt là “phá vòng nô lệ” và lấy đó làm chủ trương của trang. Ông tin rằng, người dân Việt Nam chỉ có thể có được những quan điểm chính trị riêng nếu được thông tin đầy đủ. 

Theo tinh thần ấy, mỗi ngày Anh Ba Sàm đều tổng hợp thông tin về những vấn đề chính trị từ nhiều nguồn khác nhau: từ các cơ quan truyền thông Nhà nước, các hãng tin nước ngoài, từ những nhà hoạt động, nhà báo, những blog cá nhân và cả những trang mạng bị chính phủ Việt Nam gọi là “phản động”, “thù địch với Nhà nước”.

Ngoài ra, Anh Ba Sàm còn cống hiến cho độc giả các danh sách đường dẫn (link) phong phú đến 50 trang blog hàng đầu của các cá nhân và tổ chức xã hội dân sự Việt Nam, 50 trang truyền thông độc lập và của nhà nước bằng tiếng Việt, 56 trang truyền thông nước ngoài cũng như 19 trang mạng hướng dẫn cách vượt kiểm duyệt Internet. Những kỹ thuật của blog đã tạo điều kiện cho độc giả viết các bình luận nóng hổi về những sự kiện thời sự.

Theo nhiều nguồn thống kê khác nhau thì từ năm 2009, chồng tôi và cộng sự đã đưa lên Internet hàng trăm nghìn bài báo, trong đó có rất nhiều tư liệu quý như lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1995, sách trắng về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, và nhiều bài viết của các cây viết nổi tiếng Việt Nam. Mỗi ngày, trang mạng Anh Ba Sàm có trung bình một trăm nghìn lượt truy cập.

Rất có thể là Nghị định số 72/2013/ND-CP của Chính phủ về “Quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet” đã được ban hành chỉ để nhằm kiểm duyệt trang Anh Ba Sàm. Khoản 4 Điều 20 và Khoản 4 Điều 26 của Nghị định này (có hiệu lực từ ngày 1/9/2013) cấm các chủ blog và trang mạng ở Việt Nam thu thập thông tin từ những cơ quan truyền thông Nhà nước hoặc từ những trang mạng của các cơ quan công quyền. Ở thời điểm đó, Anh Ba Sàm là trang mạng duy nhất có thể tiếp cận ở Việt Nam mà có một khối lượng tư liệu và số người truy cập ở mức đáng kể như thế.

Theo danh sách xếp hạng của Alexa.com thì Anh Ba Sàm hiện vẫn thuộc số những trang mạng đuợc truy cập nhiều nhất ở Việt Nam.

(nguồn Tễu - Blog : http://xuandienhannom.blogspot.com/)

Chúng tôi đòi tự do cho anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh

Tôi, nhà văn Mai Tú Ân, đại diện cho những nhà văn, nhà thơ, báo, văn nghệ sĩ...là bạn và là những người yêu mến anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, và cộng sự Nguyễn Thị Minh Thúy rất buồn khi phải thông báo rằng, anh và công sự đã phải trải qua tháng thứ 18 ở trong ngục tù đen tối một cách bất công, bất nhẫn và không thể chấp nhận được. 



Than ôi ! Tất cả tai họa đó đã đổ lên đầu một con người yêu nước chân chính, không làm gì sai ngoài việc xuống đường đấu tranh chống quân xâm lấn Trung Cộng. Là một văn nhân ôn hòa, tôn trọng pháp luật và không làm gì sai trái với pháp luật, khi anh đăng các bài viết của anh, hay của bạn bè anh tố cáo đích danh âm mưu thâm độc của Trung Cộng trong việc ăn cướp đất đai, biển đảo mà tổ tiên ta để lại cho tộc Việt chúng ta. Một hành động mà Trời đất cũng không dung, thì làm sao mà chúng tôi, những trí thức lại có thể ngồi yên được. Ba Sam Nguyễn Hữu Vinh cũng như chúng tôi, và cũng viết bài chỉ trích các quan chức bất tài và tham nhũng như chúng tôi. Trang Ba Sam của anh là một trong những tờ báo mạng đầu tiên và không mêt mỏi dấn thân trong việc canh tân dân trí, mở mang dân sinh và đem lại dân quyền cho tất cả mọi người dân Việt Nam.

Chúng tôi yêu cầu bãi bỏ việc kết tội Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, và trả tự do cho anh và cộng sự ngay lập tức. Nếu kết tội Ba Sam thì hãy kết tội tất cả chúng tôi (những đồng nghiệp khác tôi không thể nói thay) nên tội sẽ nói với tư cách cá nhân. Kết tội Basam và bỏ tù anh ta thì phải kết tội và bỏ tù cả tôi (Mai Tú Ân) nữa mới chứng tỏ sự công bằng. Vì tôi cũng như nhiều người cầm bút nữa cũng làm những điều mà Ba Sàm làm, nên chúng tộ hoàn toàn chấp nhận bất cứ ngục tù nào, bất cứ thời gian bao lâu, bởi chúng tội đã học được ở người bạn can trường Basam của chúng tôi những phẩm chất của một người đàn ông chân chính cần phải có.

Ba Sàm là người đã sanh ra trong một nền giáo dục tốt, bản thân anh cũng đã từng là một người thực thi pháp luật nên thật nực cười nếu nói anh phạm luật dù nhỏ. Chưa bao giờ anh dùng vũ lực, hay kích động hoặc kêu gọi dùng vũ lực để chống lại chính quyền, chống lại pháp luật hiện hành. Là một công dân nhiệt huyết với bầu máu nóng luôn sôi sục bởi tình yêu quê hương, xứ sở, anh luôn có mặt ở những nơi mà một nhà báo như anh phải có mặt. Cũng như mọi văn nhân yêu nước khác, anh chỉ có một cây bút với một tấm lòng trung trinh muốn được cống hiến chút phần nhỏ bé của mình vào với cơ đồ, vận hạn của dân tộc.
 
Cũng như bao con người dân chủ dấn thân khác, anh đã phải bỏ đi những lợi, danh, đặc quyền mà anh được hưởng từ một gia đình công lao với chế độ, bỏ đi cái vinh thân phì gia để tham gia chia sẻ với những người dân nghèo, dân oan hay những người luôn bị thua thiệt, bất công. Anh cùng với những người bạn luôn ước mơ, luôn đấu tranh cho công bằng xã hội, cho một xã hội công bình và nhân bản Việt Nam. Anh không phải là người làm chính tri, hay mộng chính trị, mà chỉ như :"Một người chèo đò đem sự thật về" giống như nhà văn Nguyễn Quang Lập, và khị chở đò đến bến, khi người dân không cần nữa thì lại trở về với công việc cũ. 

Là một người cầm bút có Tài, có Tâm anh chỉ muốn được đem những kiến thức giúp ích cho đời một cách nhiệt tình, không nề hà và bất vụ lợi. Con người anh lại thừa chất Dũng nên mặc dù ở trong trại giam bao nhiêu tháng ngày qua, anh vẫn giữ vững khí phách của một Kẻ Sĩ Bắc Hà, quyết không nhận những tội danh mà anh không hề phạm. Và cho dù có kéo dài thời hạn bao lâu thì anh cũng dứt khoát không chịu nhận những tội danh vô lý mà CA, VKS cố tình ép anh phải nhận. Đó là con người của anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, một người bạn, và là một người anh mà chúng tôi vô cùng trân trọng.

Nhưng qua lời chị Hà vợ anh thì chúng tội biết tình hình sức khỏe của anh càng lúc càng không tốt. Việc chăm sóc mà thân nhân của anh luôn bị ngăn cản, và thiếu thốn. Không có thuốc điều trị những căn bệnh mãn tính như đường, máu thì rất nguy hiểm đến tính mạng của anh.

Chúng tôi là những nguoi bạn, những người yêu mến anh rất sợ hãi và lo lắng cho sức khỏe và tính mạng của anh nữa. Và vì tất cả những điều chúng tôi đã trình bầy ở trên thì chúng tôi mong các cơ quan có trách nhiệm hãy tạo điều kiện tốt nhất cho anh được chữa bệnh. Đó là trả tự do cho anh và cộng sự của anh càng sớm càng tốt. Với tư cách là những công dân, chúng tôi sẽ có đơn trình bày cho các cơ quan chức năng theo đúng luật hiện hành, cũng như sẵn sàng nộp các khoản phí, hoặc chúng tôi sẽ thu xếp một triệu chữ ký đòi chính quyền phải trả tự do cho anh và cộng sự. 

Tất cả đều đúng pháp luật, đúng đạo Trời Đất và phải được pháp luật nghiêm túc xem xét giải quyết đúng luật.

Nếu các cơ quan thực thi vẫn không giải quyết thì theo ý kiến của chuyên gia, chúng tôi sẽ nhờ các tổ chức luật sự hợp pháp có uy tín và các luật sư có khả năng khởi kiện và bảo vệ thân chủ. Và chúng tôi thề sẽ đeo đuổi tới cùng những vụ kiện đó nếu có.

Nhưng nếu cơ quan chức năng mà vẫn im lặng như bấy lâu nay, trước sự nguy hiểm có thể xảy ra với tính mạng anh Nguyễn Hữu Vinh thì chúng tôi sẽ không khoanh tay đứng nhìn như thời gian qua đâu. Chúng tôi sẽ làm tất cả mọi biện pháp khả dĩ có thể, trong khuôn khổ luật pháp để đòi công lý cho Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, và cộng sự. Kể cả xuống đường, tuần hành, biểu tình, tuyệt thực, biểu tình ngồi, nằm..v..v..

Chúng tôi kêu gọi mọi người hãy ủng hộ tự do ngay lập tức cho Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và cộng sự.

MTA

15/11/15

Nước Pháp không khiếp sợ...


"Đoàn Kết, Mạnh Mẽ và Duy Trì Lối Sống, Tinh Thần Pháp"

Đó là khẩu hiệu nước Pháp đưa ra để chứng minh cho những kẻ tấn công thấy họ không dễ bị làm cho khiếp sợ. Không bao giờ khiếp sợ.


Cuộc tấn công tàn bạo vào thủ đô Paris ngày thứ sáu, 13/11/2015 đã được xác định là do Nhà Nước Hồi Giáo IS chủ mưu với sự tiếp tay của các phần tử khủng bố trong nước Pháp. Đã có ít nhất một công dân Pháp, sinh ngày 21/11/1985 được phát hiện trong số thành viên khủng bố ở Bataclan. Một người Pháp khác cư trú ở Bỉ có dấu hiệu liên quan các vụ tấn công. Hộ chiếu của một người tỵ nạn Syria, sinh năm 1990 cũng đã tìm thấy từ một nghi phạm khủng bố ở gần khu vực Sân bóng Stade de France.

Có ít nhất là bảy phần tử khủng bố trang bị AK, áo gilet có gắn thuốc nổ TATP đã tham gia vào các cuộc tấn công vào một số địa điểm ở quận 10, quận 11. Paris. Sau khi xả súng bắn bừa bãi vào đám đông thì sau đó tất cả đã tự sát bằng cách kích nổ các thíết bị nổ đeo trên mình. Có ba nhóm tấn công đã phối hợp với thời gian các vụ tấn công khá gần nhau tối hôm thứ Sáu. 

Vào lúc 21:25 Nổ súng đầu tiên tại quán bar Le Carillon bar và nhà hàng ăn Le Petit Cambodge, rue Bichat. 10 người chết.

21:49 Khủng bố tấn công nhà hát Bataclan, khi ban nhạc rock California đang biểu diễn trước lượng khán giả khoảng 1.500 người tại nhà hát Bataclan. Những kẻ tấn công đã xông vào nổ súng và ném chất nổ vào người xem. 2 kẻ khủng bố đã bắt một số con tin ở đây nhưng lực lượng đặc nhiệm Pháp đã tấn công tiêu diệt. 80 người đã bị thiệt mạng tại đây.

21:53 Tấn công gần sân vận động Stade de France khi có trận đấu bóng đá giữa Pháp và Đức. Có 5 người thiệt mạng.

Ngoài ra còn có một số địa điểm khác nữa bị tấn công. Một loạt các cuộc tấn công xảy ra không xa Quảng trường Cộng hòa và Quảng trường Bastille ngay tại khu trung tâm thủ đô Paris. Các tay súng đã chọn thời điểm các quán cà phê, quán bar và nhà hàng đang đông khách nhất. 

Có 129 người chết. 352 người bị thương, 99 người đang trong tình trạng nguy kịch. Trong số các nạn nhân có các quốc tịch khác nhau, trong đó đã tìm thấy các nạn nhân thuộc các quốc tịch như Pháp, Anh, Mỹ v.v... Nước Pháp tuyên bố để tang ba ngày.  Tổng thống Pháp Francois Hollande đã tuyên bố 'tình trạng khẩn cấp' trên khắp cả nước. 

"Tấn công Paris là hành động chiến tranh" Tổng thống Hollande tuyên bố rằng các vụ tấn công ở Paris là “một hành động chiến tranh” được tổ chức Nhà nước Hồi giáo hoạch định ở nước ngoài và nhận được trợ giúp từ bên trong nước Pháp.

“Đối mặt với chiến tranh, đất nước phải có hành động phù hợp” Tổng Thống nói.

NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM ! 

MTA 

Nỗi Lòng Người Đi - Nỗi nhớ về Hà Nội..


Giờ đây biết ngày nào gặp nhau,
Biết tìm về nơi đâu, ân ái trao nàng mấy câu.
Thăng Long ơi, năm tháng vẫn trôi giữa dòng đời
Ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi, 
Hồ Gươm xưa vẫn chưa phai màu...


Lời ca nhức nhối, ngập tràn nỗi nhớ nhung trong bài ca bất hủ Nỗi Lòng Người Đi trên của nhạc sĩ Anh Bằng thì hẳn không người yêu Hà Nội nào không thuộc, không thích. Và nếu có một cuộc bầu chọn bài hát hay nhất về Hà Nội mọi thời thì chắc chắn bài hát này sẽ đứng đầu.

Tưởng nhớ tác giả tài hoa của bài hát này, nhạc sĩ Anh Bằng vừa rời bỏ trần gian, đem Nỗi Lòng Người Đi bất hủ của ông xuống với Tuyền Đài, chúng ta lại một lần nữa chìm vào giai điệu nhẹ nhàng, tha thiết của một người Hà Nội đi xa nhớ về người yêu nơi ấy.

Hà Nội, thành phố u tịch thời ấy như buồn hơn, trầm mặc hơn khi một phần người dân thành phố đã phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, rời bỏ quê cha đất mẹ để lên đường di cư vào miền Nam. Hà Nội năm ấy sụt sùi mưa để khóc những người con ra đi mà vẫn quay đầu nhìn lại, khóc cho những gia đình ly tán và khóc cho những cặp tình nhân trẻ phải chia lìa đôi lứa khi chưa trao nhau nụ hôn đầu.

Tôi xa Hà Nội năm lên 18, khi vừa biết yêu
Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan trong mây chiều
Hà Nội ơi, nào biết ra sao bây giờ.
Ai đứng trông ai ven hồ, 
Khua nước trong như ngày xưa...

Một tình yêu đôi lứa dang dở lồng trong bối cảnh của một thành phố buồn kẻ ở khóc người đi. Hà Nội giống với Huế hơn Sài Gòn ở chỗ khi chia xa mới nhớ nhiều. Như một báu vật mà xa mới nhớ, mất mới tiếc vậy. Chỉ khi ta phải rời xa cái nơi ấy cùng người yêu "16 trăng tròn đắm say", mà con đường trở về bỗng trở nên mịt mờ diệu vợi thì nỗi nhớ quắt quay mới dày vò ta. Để đêm về ta được gặp em trong những giấc mơ hoang đường nhất, và ngày lên ta lại mong lúc đêm về để được gặp em nơi ấy...

Giờ đây, biết ngày nào gặp nhau
Biết tìm về nơi đâu, ân ái trao nàng mấy câu.
Sài Gòn ơi, mộng với tay cao hơn trời
Tôi hái hoa tiên cho đời,
Để ước mơ nên đẹp đôi...

MTA

Nhạc sĩ Anh Bằng - 50 năm sáng tác

 Phạm Kim
(Người Việt On-line)

                                              
Nhạc sĩ Anh Bằng
 

* Khúc hát 'top hit' hiện nay: Anh Còn Yêu Em

Khi nghe CD “Anh Còn Yêu Em” trình làng trong năm 2008 của Anh Bằng (phổ thơ Phạm Thành Tài) cùng với Khúc Thụy Du (phổ thơ Du Tử Lê), chúng ta thấy mélody qua dòng nhạc của người nhạc sĩ từng trải mênh mang như sóng nhưng cũng trỗi dậy căng tràn nhựa mới.
Người phụ trách nhạc yêu cầu Orchid Lâm Quỳnh cho biết “Anh Còn Yêu Em” là ca khúc top hit được yêu cầu liên miên trên truyền hình. Với lời thơ: “Anh còn yêu em, Nụ hôn sim tím, áo nhàu qua đêm” “Anh còn yêu em, như rừng lửa cháy, anh còn yêu em, như ngày xưa ấy, Anh còn yêu em, Lồng tim rạn vỡ, anh còn yêu em, bờ vai mười sáu”, và “Bạch đàn thâu đêm, Thầm thì tóc rủ, Chiều xuống mờ sương, cửa đóng rèm buông”... “Buồm trăng giương cánh, khi thủy triều lên, sóng xa êm đềm” “Anh còn yêu em - Chênh vênh mi buồn”, mélody của ca khúc này bắt được bằng những rung động của lời thơ, như chính Anh Bằng là người làm thơ, sống động như đó là nội dung cuộc sống của ông.
Ðồng thời còn có những bài hát khác cũng phổ từ những lời thơ như “Anh còn yêu em, bờ vai 16” hay “Anh biết em đi chẳng trở về”, nghe âm điệu cứ như là những ca khúc trẻ nào như của lứa tuổi mới lớn, 18 đôi mươi của ông từ trên nửa thế kỷ trước “Nỗi Lòng Người Ði”: “Tôi Xa Hà Nội năm lên 18, khi vừa biết yêu...”. Nên CD “Anh Còn Yêu Em” xuất hiện năm 2008, Anh Bằng như trở lại thời mới lớn khi vừa mới biết yêu? Từ đấy, người thưởng ngoạn tưởng như Anh Bằng sáng tác bởi chính cuộc sống lãng mạn rung cảm đắm say của ông.

* Tại sao?
Cuộc đời của Anh Bằng đã trải dài ra, từ “những đồi sim” của thời làm bạn cùng xóm làng với Hữu Loan (thập niên 1940), ở vùng cửa Thần Phù Thanh Hóa, tới những đêm lắng nghe tiếng hàng bạch đàn gió lay, như tóc xõa ở Quy Nhơn (1957 và thập niên 1960), qua những ca khúc sáng tác từ cảm nhận khi sống bỡ ngỡ những năm đầu tỵ nạn, bát ngát đồi hoa tím ở thành phố nhỏ dưới 5,000 dân ở Washington tới Quận Cam: Rung cảm khi nhớ lại đồi ấu thơ, cánh buồm căng tuổi trẻ và chênh vênh ở tuổi bất cứ nào khi nhìn nhau qua hàng mi buồn nuối tiếc - Chênh vênh như gần như xa, lảo đảo vì mất mát..

Theo nhà văn Trần Khánh Liễm: “Ba Làng có hai vườn thông thật đẹp và đầy mơ mộng, mà những ai thích nhạc đều ra đó để lấy cảm hứng. Những buổi chiều Chúa Nhật các tu sĩ của Tiểu Chủng Viện thường lên núi Thủi chơi, nơi này có những đồi hoa sim trải dài cho tới sườn núi và tận cùng ra tới biển với những tảng đá to lớn phía cạnh bãi. Những đêm khuya khi trời đẹp chỉ nghe tiếng sóng êm từ từ đổ, để ru hồn người vào giấc đông miên... Còn khi biển động thì... ôi thôi, sóng lớn như vỡ bờ!”.

Trong đời sống thực, Anh Bằng đã rời Sài Gòn trong chuyến bay từ Tân Sơn Nhất vào ngày 29 Tháng Tư, cùng với vài người con, trong số đó có Thy Vân vừa tuổi trăng tròn, nhưng vợ ông và vài người con khác còn kẹt lại. Ông đến trại tị nạn, được một phi công của hãng hàng không Alaska bảo trợ đến Connecticut, rồi sau đó về Enumclaw, ngoại ô Seattle, tiểu bang Washington. Tại đây, Thy Vân đã tốt nghiệp trung học, trước khi cả gia đình (thêm Trần Ngọc Sơn, Trần An Thanh) di chuyển về ở Quận Cam và chủ trương Trung Tâm Asia.

Và phải chăng như nhà thơ Du Tử Lê thổ lộ trong đoạn “Hãy nói về cuộc đời khi tôi không còn nữa!”.

“Hãy nói về cuộc đời”: Ngay khi tác giả nay còn sống nay, thì đáng quí hơn là khi tác giả đã ra đi mất rồi, mới ca tụng chiêu hồn sao?

* “Tôi Xa Hà Nội, khi lên 18 khi vừa biết yêu”...

Anh Bằng sinh ra và lớn lên tại vùng đất phù sa Tân Bồi, Thần Phù, làng Ðiền Hộ-Thanh Hóa. Năm 1953, người anh của ông là Ðại Úy Trần An Lạc, chỉ huy trưởng Lực Lượng Tự Vệ của Ðức Cha Lê Hữu Từ, bị Việt Minh lùng bắt gắt gao. Cùng lúc Việt Minh muốn đe dọa Ðại Úy Trần An Lạc, đã ra thêm bản án tử hình cho người anh là nhạc sĩ Trần Văn Mão và hai người em, là ông Trần Tấn Mùi (trước 1975 là dân cử của tỉnh Lâm Ðồng-VN) với cậu em út Anh Bằng để tiêu diệt lòng cương quyết bảo vệ khu tự trị, nếu ông Trần An Lạc không chịu ra hàng.

Vì Anh Bằng không ra khỏi “vùng Tề” và khu Tư (từ Thanh Hóa tới Nghệ An) để trốn tránh như các người anh khác, nên đã bị bắt, bị kết án và đi tù Lý Bá Sơ... Mãi đến khi Việt Minh ám sát được Ðại Úy Trần An Lạc (trong lúc ông này ngồi trên xe jeep chỉ huy từ tòa Ðức Giám Mục Lê Hữu Từ đi ra, bị mai phục bắn hạ), thì án tử hình cho Anh Bằng mới được giảm. Theo lời ông Thơ Ðường-Phạm Ngọc Pháp, phụ tá LM Nhạc (Ấp Hàng Dầu, sau được đổi tên là An Lạc) kể rằng tên giáo xứ An Lạc đã được đặt cho một xóm họ đạo di cư tân lập sau 1957 ở ngoại ô Sài Gòn, vùng Ông Tạ). Nhưng ông vẫn còn bị giam tù với những cực hình khắt khe, cho đến khi có Hiệp Ðịnh Genève thì mới được thả, khi ấy Pháp vừa nhẩy dù xuống Phát Diệm. Anh Bằng đưa vợ con vào Nam. Vợ ông, người bạn đời giản dị bình thường, vẫn gắn bó chung dưới một mái nhà trên 60 năm qua...

Nhiều người dân làng còn nhắc nhớ, nhà văn Trần Khánh Liễm nói: “Có một thời 3 anh em ông Anh Bằng, có người anh cả là nhạc sĩ đàn phong cầm rồi đến hai ‘ca sĩ’ Trần Tấn Mùi và Anh Bằng là các giọng hát chính: Ông Mùi là giọng hát nam solo, hai anh em cùng có giọng hát nổi tiếng át hẳn bạn đồng lứa”. Các tiếng đàn tiếng hát đồng lớp với Anh Bằng lúc bấy giờ là Linh Mục Hương Tiến, Linh Mục Ðinh Trí Thức, ông Ninh Phúc Duật, và Trần Khắc Kỷ (cụ Chánh Kỷ đã qua đời gần đây tại Nam Cali), cũng như một số bạn lớp trên như Linh Mục Thanh Lãng, GS Phạm Việt Tuyền, LM Nguyễn Duy Vi, Nguyễn Hữu Chỉnh, Ðức Giám Mục Nguyễn Sơn Lâm, LM Trần Khắc Hỉ, Vĩnh Phò, Phạm Tế Mỹ, chánh án tòa nhân dân Phạm Ngọc Hoan (thân phụ của cựu Giám Ðốc Cục Tình Báo Trung Ương Phạm Văn Huấn, bố vợ của nhạc sĩ Lê Văn Khoa), những người trong làng danh tiếng như Sơn Ðiền-Vũ Ngọc Ánh, Sư Huynh Phạm Ngọc Hóa (hiệu trưởng Taberd/ Viện Ðại Học Lasan), Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, nhạc sĩ Nguyễn Khắc Cung (cùng người Ðiền Hộ), giám đốc Viện Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, thân phụ ông Cung là cụ Bố Chánh Tỉnh Thái Bình Nguyễn Lập Lễ. Ngoài ra, Anh Bằng cũng là lớp đàn anh tại Ba Làng của Trần Khánh Liễm, TNS Nguyễn Gia Hiến, Nguyễn Tiến Hỷ, Ðàm Quang Hưng, TS Nguyễn Xuân Phong, TS Nguyễn Tiến Hưng (phụ tá tổng thống, đặc trách liên bộ, đặc trách kế hoạch VNCH). Trẻ nhất là nhạc sĩ Trường Sa, GS Phạm Thiên Hùng, Trần Anh Liễn. Ðồng thời một vài nhân vật kể trên cũng đều là bà con họ hàng, làng nước với nhạc sĩ Anh Bằng. Sau ngày gia đình đón từ Lý Bá Sơ trở về, ông có chuyển ra Nam Ðịnh và Hà Nội trước khi di cư vào Nam, trôi dạt không có một mảnh giấy tờ, lý lịch nào của những năm học chuyên cần, xuất sắc từ Ba Làng nữa.

Những người bạn đồng trang lứa hoặc nhỏ tuổi hơn nhưng có đầy đủ giấy tờ bằng cấp từ những năm học Ba Làng, thì đã được giữ những chức vụ khá lớn. Còn Anh Bằng sau tháng năm tù đầy chỉ có hai bàn tay trắng, may Pháp ngữ rất thông suốt, Anh ngữ cũng khá giỏi và cũng nhờ thời gian tự học với một vài trí thức trong tù, ông lại trở thành một nghệ sĩ sáng tác nhạc. Trách vụ này, ông đã đa mang trên vai tròn suốt một đời sau đó.

Vào Nam, ông phục vụ quân đội trong ngành Công Binh từ 1957, ở Quy Nhơn (lúc ấy Thy Vân mới vừa ra đời sau các anh chị mang tên: Dân, Việt, và Nam). Sau đó ông được chuyển về Tiểu Ðoàn Chiến Tranh Tâm Lý nhờ sáng tác các vở kịch đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, suốt thời gian này gia đình nhạc sĩ Anh Bằng ít liên lạc với họ hàng anh em.

Giải ngũ năm 1962, khi đang được trọng dụng nhờ tài năng văn nghệ trong Tiểu Ðoàn Chiến Tranh Tâm Lý, ông liên lạc lại được với anh em họ hàng ruột thịt, sau đó ông cùng vợ con về sống tại Bà Chiểu. Ðây là quãng thời gian ông sáng tác rất mạnh, và gắn bó chặt chẽ gần gụi với các hệ thống truyền thanh Quốc Gia và tư nhân.

* Tâm hồn nhạc sĩ luôn sống động, như mãi vẫn tươi mới

Trong khoảng thời gian 1956-1958, Anh Bằng soạn vở kịch thơ dài khoảng 3 giờ “Ðứa Con Nuôi” đoạt giải thưởng hạng nhất của giải thưởng văn học nghệ thuật và kịch nghệ của tổng thống VNCH. Liên tiếp những năm sau đó, ông soạn thêm những vở kịch nổi danh thời ấy như: Hoa Tàn Trên Ðất Ðịch, Lẽ Sống và Nát Tan...

Những vở kịch này đã được các đài phát thanh diễn lại nhiều lần, nhưng chẳng ai biết Anh Bằng là tác giả! Ông thích sống đời nghệ sĩ tự do, và phát triển trong lãnh vực sản xuất âm nhạc, phát thanh, ông liên tiếp có nhiều tác phẩm best seller và lập nhiều cơ sở kinh doanh liên hệ đến ca nhạc, như 3 quán ca nhạc Làng Văn. Cuộc sống vẫn thật yên tịnh, ông luôn tự chế, chỉ muốn là người nghệ sĩ hết sức lãng mạn, nhưng không bao giờ đi quá xa, và luôn giữ được vai trò người cha trong gia đình, một nghệ sĩ chừng mực, nghiêm chỉnh sáng tạo.

Nhờ tài năng diễn xuất kịch nghệ, được trọng dụng trong quân đội một cách công bằng, ông luôn khiêm tốn, chừng mực: Là tác giả không ai ngờ được của các khẩu hiệu tuyên truyền, các bài viết chiến dịch cho “Binh Méo-Cai Tròn”, “Huynh Ðệ Chi Binh” thường được ban hài hước nổi tiếng nhất thời ấy là nhạc AVT trình bày, với mục đích nêu cao tâm tình của người lính, tránh chia rẽ.

Nhạc sĩ Anh Bằng thường nhớ lại những năm cuộc chiến cao độ, thính giả ái mộ và yêu mến ca nhạc chính là anh em quân nhân tiền tuyến hoặc hậu phương và những người tình, người thân yêu của lính... Ðó là thời thành tựu của những ca khúc hát mỗi ngày, trên hệ thống Phát Thanh Thương Mại tại Sài Gòn. Khi ca khúc “chạm” đến trái tim người nghe rồi sẽ được yêu mến, đón nhận, chỉ giản dị thế thôi... Như “Nửa Ðêm Biên Giới”, “Căn Nhà Ngoại Ô” v.v... dành cho đại chúng, và sau này “Khúc Thụy Du”, hoặc cuối đời: “Anh Còn Yêu Em”, thỏa mãn cả mọi thính giả dù là kén chọn nhạc, khó tính, thích nội dung bài hát có chiều sâu ý nghĩa, hay là đại chúng thính giả ưa nhạc đa sầu đa cảm.

Cũng như những năm ở hải ngoại này (lần thứ nhì lập nghiệp trở lại, cũng giống như bao nhiêu năm trước tại quê nhà, vẫn bắt đầu lại từ đầu với hai bàn tay trắng), sáng tác của Anh Bằng có thêm những nét xúc cảm mới, đưa vào dòng nhạc mélody của sức sống mới dựa trên kho tàng âm nhạc Việt, bằng xúc cảm vượt trội hơn cả so với những nhạc sĩ đã thành danh trước đây.

Những người hát nhạc Anh Bằng, như Nguyên Khang, Y Phương, Thiên Kim, họ thể hiện thật tươi mới qua các DVD và CD Asia trong vài ba năm gần đây... Họ cũng khiến ta liên tưởng tới mươi năm trước với Như Quỳnh, Mạnh Ðình tiếng hát sở trường những khúc hát mộc mạc bình dị như “Chuyện Tình Hoa Sim”, “Chuyện Giàn Hoa Thiên Lý”. “Chuyện Tình Hoa Trắng”, bài hát ra đời sau nhưng vẫn tươi mới hơn những ca khúc tương tự về đồi hoa sim thơ Hữu Loan, đã vang dội sân trường Thanh Hóa (quê Hữu Loan), nối lên cùng với Sông Lô của Văn Cao rung động cả vùng khu Tư, trong lúc ấy Anh Bằng đang được giáo dục và học thuộc sách nhạc Cantique de la Jeunesse của nhà dòng.

Từ thập niên 1965-1975, với những ca khúc top hit như: Nếu Vắng Anh, Giấc Ngủ Cô Ðơn, và khi sang đến hàng loạt sáng tác như “Chuyện Tình Lan Và Ðiệp 1, 2, 3...” ra đời cùng với các nhạc phẩm khác của Sóng Nhạc, lúc ấy Anh Bằng đã là người nhạc sĩ sống rất phong lưu, bằng tài và chuyên cần, tự mình tạo ra; đi lại bằng xe Toyota tư nhân mới, tiền bạc vô nhiều không kể, không nhạc sĩ sáng tác hoặc nhà văn có tác phẩm nào có thể giầu bằng.

Có nhiều người vẫn nêu câu hỏi: Tại sao tác giả Anh Bằng lại sống thầm kín, khiêm cung, tránh cho in hình (dù là một nghệ sĩ... rất ăn ảnh) và tránh trả lời các cuộc phỏng vấn của báo chí?...

Có lẽ hiểu được ông vì bị chi phối bởi quan niệm cổ về nghiệp “xướng ca vô loài”: Dù rất thành công về tài chánh và trở thành ‘bố già’ trong lãnh vực nghệ thuật sân khấu, ông không hề khuyến khích hoặc đào tạo con cháu nối tiếp đường đi của ông, ngoại trừ một khi lớp hậu duệ tự ý thức và tự chọn lựa.

* Trọn cuộc đời giữ tâm hồn thơ và mộng: Anh Còn Yêu Em

Khởi đi từ những năm xa xưa mới đến Hoa Kỳ và định cư tại một thành phố nhỏ của TB Washington trước khi về Cali chủ trương một trung tâm ca nhạc đã lớn mạnh và rất danh tiếng hiện nay, nhạc sĩ Anh Bằng tâm sự rằng: “Trong tủ thơ của mình có trân trọng hàng ngàn tập thơ và các sáng tác của nhiều tác giả thương mến gửi tặng, Anh Bằng trân trọng từng bài thơ, đọc thường xuyên rất kỹ, không bỏ sót...”.

Theo lời ông, tác giả đều rất quý mến những ca sĩ hát nhạc Anh Bằng hay, dù mới đây nhất qua ca khúc Anh Còn Yêu Em, như Nguyên Khang, Y Phương, Thiên Kim, cũng như xa xưa có Phương Dung, Thanh Thúy, Thanh Tuyền... đầu thập niên 1980 ở hải ngoại có Lệ Thu, Ngọc Lan, Hải Lý. Họ hát Hạnh Phúc Lang Thang rồi đến Như Quỳnh mà theo lời ông những tiếng hát hát thành công đoạt trong list nhạc top hit... Tất cả, cho dù bao giờ, lúc nào ông cũng đều dành cho những tiếng hát nhạc của mình: sự cảm mến... Dù mười năm qua, ông không còn thưởng thức qua thính giác được tiếng hát nào qua thanh âm nữa. Có chăng ông chỉ còn ân cần xem lại hình ảnh, qua DVD và ghi nhận từ những lời khen ngợi, cảm kích của thính giả.

Nhạc sĩ Anh Bằng cho rằng dù nhà thơ Phạm Thành Tài (thơ phổ cho ca khúc Anh Còn Yêu Em) chưa nổi tiếng “nhưng thơ có hồn, thơ gây cảm xúc cho người viết nhạc”... và ‘cả hai ca khúc Anh Còn Nợ Em và Anh Còn Yêu Em đều hay’. Trong ca khúc này, ta thấy mênh mông cả khung trời Thanh Hóa, rồi đến Quy Nhơn và quãng đời lưu vong Quận Cam, tất cả đều phảng phất nét lãng mạn chôn giấu.

Ðiểm đặc biệt là có một vài ca khúc tác giả rất bằng lòng thì lại không được đón nhận mạnh, còn một số ca khúc tác giả không thích lắm thì lại được đón nhận nồng nhiệt (tuy vậy Anh Bằng cũng nói rằng: trường hợp này ít khi xảy ra...) - Có những tập thơ hay (đối với chủ quan của Anh Bằng), ông nói: “mình đọc đi đọc lại nhiều lần - thấy sung sướng” và “ngược lại cũng có những bài thơ của các tác giả danh tiếng nhưng lại vẫn chưa tìm ra được nét ưng ý để phổ thành ca khúc... Tác giả BH nhận định: “Tâm hồn nhạc sĩ Anh Bằng qua thính giả khắp nơi ghi nhận, càng những năm về sau Anh Bằng càng thơ mộng, trẻ trung, yêu thiết tha cuộc đời này, âm thanh vang xa...”.

* Những ca khúc nổi như cồn rất hiện tượng, thời thập niên 1960

Nếu Vắng Anh là ca khúc đầu tiên của Anh Bằng được in trên bản nhạc giấy với số lượng bán rất cao (đó là nét đặc thù của nền âm nhạc miền Nam trước 1975) và cùng thời trên dĩa Sóng Nhạc-Asia qua tiếng hát Lệ Thanh, tiếng hát sắc sảo rất hay, nhưng ít chịu xuất hiện trên sân khấu hoặc chịu in hình ca sĩ trên bài hát ngày ấy. Ca khúc thứ nhì lại do Thanh Thúy được mời trình bày mang tên: Giấc Ngủ Cô Ðơn, và kế đến là tác phẩm thứ ba mang tên: Ðôi Bóng với Phương Dung rồi sau đó mới đến Lẻ Bóng một lần nữa lại được Thanh Thúy trình bày. Nhưng trước khi cho ra mắt 4 tác phẩm được các ca sĩ thượng thặng thời đó trình bày, Anh Bằng còn có Tiếc Thầm, (một ca khúc cổ võ cho cao trào đi quân dịch, bảo vệ đất nước tự do cho người dân) ít người nghĩ đến tên tác giả, đã do ban AVT trình bày lần đầu được phát nhiều lần trên màn ảnh truyền hình mới ra đời được chiếu lớn trên toàn quốc cho đợt thử nghiệm truyền hình đen trắng, chưa hết lại còn những bài hài hước dựa trên ý thơ Hồ Xuân Hương, khiến ai cũng nhớ, cũng cười thoải mái với Em Tập Vespa, hoặc Ðánh Cờ... Riêng bài Huynh Ðệ Chi Binh thì lại là một đề tài phẩm bình về sự chia rẽ trong quân đội rất ý nghĩa khi kêu gọi đoàn kết giữa hàng tướng lãnh để chống Cộng, bảo vệ người dân...

Trong sáng tác mạnh mẽ bội phần với thời trước 1965, Anh Bằng liên tiếp cho ra đời: Nửa Ðêm Biên Giới, tiếng hát Thanh Thúy, Tiếng Ca U Hoài (một trong những ca khúc tác giả rất thích, rất hài lòng và biết được rằng không thành công như những ca khúc khác), sau đó là những ca khúc mở lối cho cao trào phát thanh thương mại như: Hai Mùa Mưa, Căn Nhà Ngoại Ô, Gõ Cửa... cùng với cả trăm sáng tác khác, với nhiều khúc hát slogan, khúc hát chiến dịch tuyên truyền mà Anh Bằng viết không cần lưu lại tên tác giả dù với ông, không một việc làm hoặc sáng tác nào mà ông coi nhẹ, không đặt trọn vẹn trái tim với tinh thần phục vụ.

Tên của từng bài hát và tiết tấu cùng chọn ca sĩ thời bấy giờ nằm trong tay nhạc sĩ, sự tìm chọn ca sĩ, tập luyện và cùng nhau đi thu băng chung cả là một công trình kéo dài cả tuần lễ, và nhạc sĩ vừa có quyền vừa thể hiện vai trò rất quan trọng trong tiến trình trình diễn... Cho đến khi “Chuyện Tình Lan và Ðiệp 1, 2, 3...” ra đời đã đánh dấu mức cực thịnh của những fans ái mộ và nhu cầu nghe, thưởng thức loại nhạc tình cảm gần gụi của Anh Bằng.

Sau đó sáng tác “Chuyện Tình Trương Chi” tuy số thu có thua Chuyện Tình Lan Và Ðiệp nhưng thính giả đại đa số vẫn khát khao thưởng thức và mua các bản nhạc giấy xuất bản với số lượng đáng kể, và số thu tài chánh đã vượt trội một ca khúc có tựa đề tương tự , đó là “Khối Tình Trương Chi” của nhạc sĩ thành danh Phạm Duy: Dù ca khúc ký tên Phạm Duy này là loại nhạc noble, được đánh giá sang cả, nhưng ít ai bỏ tiền ra mua nhạc giấy bài này, hoặc yêu cầu nghe qua các chương trình Phát Thanh Thương Mại thường nhật so với Anh Bằng.

Trong khi các chương trình phát thanh thương mại, quyến rũ đông đảo thính giả, từ học sinh, thanh niên, bạn trẻ, quân nhân tiền tuyến, em gái hậu phương, cả giới lao động thợ thuyền, cả những bạn gái trẻ nhọc nhằn gánh nước cũng dành dụm đồng tiền khó kiếm, mua nhạc giấy hoặc dĩa nhạc Chuyện Tình Lan Và Ðiệp. Những tháng năm đó có phong trào “say mê” với các chương trình Phát Thanh Thương Mại, tư nhân là chủ tràn ngập những quảng cáo như ta vẫn thấy ngày nay rất nhiều ở Hoa Kỳ.

Một trong những sáng tác mới và rất sung mãn gần đây của Anh Bằng là “Khóc Mẹ Ðêm Mưa” qua tiếng hát Ðặng Thế Luân, Nhạc sĩ Anh Bằng tâm sự rằng: “Mẹ mất sớm, người anh cả (bị Việt Minh ám sát từ sớm) khiến Anh Bằng lúc nào cũng chơ vơ nhớ và cần mẹ, nhưng đến khi người anh từ trần ngày 29 tháng 4-2006, khiến nhạc sĩ Anh Bằng cảm nhận như một mất mát thật lớn lao đã xảy ra cho mình”. Nước mắt và xúc động rất chân thật nhiều tháng đã khiến cho ca khúc sống thật và thương cảm, gieo cảm xúc cho hầu hết người nghe qua ca khúc...

* Phong phú sáng tạo, nhanh chóng chinh phục trái tim của khán thính giả

Tính tình kín đáo, thiện cảm của Anh Bằng khiến những ‘sếp’ lớn trong ngành âm nhạc tuyên truyền cũng chẳng bao giờ biết Anh Bằng chính là tác giả những sáng tác như Tiếc Thầm, và là tác giả những vở kịch được quân đội diễn nhiều nơi. Một tâm hồn nghệ sĩ tiềm ẩn biết bao thơ mộng mà bây giờ sau hơn 50 năm nhìn lại sự nghiệp, nhiều thính giả mới thầm thán phục thêm khi nghe những ca khúc lãng mạn chân tình như: Khúc Thụy Du, Anh Còn Yêu Em, Khóc Mẹ Ðêm Mưa... Tiếc Thương trong DVD Lá Thư Chiến Trường muộn màng ra đời. Và đến nay, gần như không DVD Asia nào có sáng tác mang tên Anh Bằng mà không được chờ đón.

Trở lại với các sáng tác như bài “Chuyện Giàn Thiên Lý” cảm nhận từ ý bài thơ Nhà Tôi của Yên Thao, hoặc Trúc Ðào, ý thơ của Nguyễn Tất Nhiên. Theo nhà văn Phạm Quốc Bảo: “Chúng ta thấy các bài thơ dài thượt, khó bắt được âm điệu để diễn tả những ý thơ, thế mà qua tay nhạc sĩ Anh Bằng, ông tỏ ra rất dễ dàng nắm bắt được ý chính những rung cảm mạnh mẽ nhất, thô sơ nhưng gần gũi nhất, để người nghe sẽ nhớ ngay, hiểu ngay và có thể hát lại dễ dàng, họ sẽ yêu thích và ghiền... Và công lao chính là nhờ âm điệu của dòng nhạc tài hoa, dù chỉ cảm nhận một vài ý thơ, nhưng không bao giờ Anh Bằng quên trang trọng đề tên nhà thơ qua tác phẩm ấn hành.”

Kiếm được một bài nhạc sẽ ăn khách rất khó, kiếm được một bài thơ hay trở thành ca khúc lại càng khó hơn nữa, nhưng Anh Bằng đã “đeo” cho bài thơ một đôi hia bảy dặm, nó đã bay bổng xa tới tận đâu đâu... “Chỉ cần 32 trường canh”, ông đủ diễn tả cho thính giả biết tựa đề, nét lãng mạn và nội dung của bài thơ bài hát... và như ánh sét, nhanh chóng đi ngay vào tận mỗi trái tim. Ông biết trước loại nhạc nào quần chúng thích, kể cả vào những năm sau những đảo chính, chỉnh lý, biến động ở Miền Nam, người dân cần những tình cảm mới, nguồn xúc động tươi tắn, gần gũi, bình dị và trong thời điểm này có những sáng tác cho chiến dịch, như “Nửa Ðêm Về Sáng”, “Nửa Ðêm Biên Giới” như các khẩu hiệu cổ động, nó phát xuất từ Anh Bằng: Chỉ trong thoáng chốc ngồi ở bàn viết và liền được tung lên phát thanh, vang dội toàn quốc ngay sau đó...

* Triệu phú (VNCH) thời Sóng Nhạc-Asia

Nhạc sĩ Anh Bằng quá dầy kinh nghiệm phát hành, phân phối của trung tâm Dĩa Sóng Nhạc, từ những năm điều hành hệ thống âm nhạc ở các đài Phát Thanh Quốc Gia, cho tới các chương trình Phát Thanh Thương Mại. Cái nhìn viễn kiến của ông, theo lời anh Trần Văn Khải là “nhìn ra biển rộng mênh mông chân trời bao la, và tiến mạnh, chứ không chỉ là cái nhìn nhỏ hẹp trong ao hồ nhỏ bé”. Âm nhạc và văn nghệ miền Bắc chỉ có kho súng đạn, chiến đấu trong khi miền Nam là một kho tàng nhạc giá trị tình tự và nhân bản.

Dù trong một hai năm đầu lớp dạy nhạc Lê Minh Bằng khu nhà thờ Tân Ðịnh Sài Gòn, mới chỉ vừa đào tạo đã có được thêm Trang Mỹ Dung và Giáng Thu... cho các chương trình phát thanh kịp một năm trước khi miền Nam thất thủ vào tháng Tư 1975. Ðó là những năm hợp tác tuyệt vời của bộ ba: Lê Dinh đến Canada (sinh năm 1934, là viên chức trọng yếu phụ trách Tân Nhạc của Ðài Phát Thanh Sài Gòn), Nhạc Sĩ Minh Kỳ (1930-1975), đi tù và chết và Anh Bằng, trong cái tên ghép ba người: Lê-Minh-Bằng.

Ra hải ngoại, Anh Bằng khởi nghiệp ban đầu với người cháu là nhà tổ chức ca nhạc Trần Thăng, chung sức lập ra Trung Tâm Dạ Lan khoảng năm 1984.

Ông vốn sẵn có tài, có sáng tạo và người cháu có tài chánh, nhiệt huyết và sáng kiến; nên những năm đầu tiên rất thành công đáng kể. Trong dịp này, Thy Vân cũng xuất hiện trên một số bìa băng cassett nhạc khi hát một vài ca khúc, nhưng sau đó Thy Vân biến dần vào lãnh vực tổ chức. Cô có ý muốn phát triển lớn rộng hơn, và Asia ra đời từ đó. Khi rời Dạ Lan cũng là lúc Thy Vân không còn hát và bắt đầu điều hành, phát triển Asia dưới sự hướng dẫn và công sức của thân phụ. Nhờ vậy, Asia đã lên rất cao.

So sánh với vài nhạc sĩ có tiếng, có tài và thế lực giao tế rộng, sáng tác mạnh như Hoàng Thi Thơ, Phạm Duy nổi bật trong giới văn nghệ nhờ báo giới luôn nhắc nhở khen ngợi, cũng phải chịu nhượng bộ trong khung cảnh xa lạ xứ người... Từ đó mới thấy sự chọn lựa đúng lúc và có kế hoạch cũng như tài năng phong phú, nhạc sĩ Anh Bằng lớn lao vượt trội là như thế!

Soạn nhạc để có người yêu mến, và có số thu tài chánh khó ai có thể ngờ tới... Không đáp ứng được quần chúng qua một vài ca khúc thì bị loại bỏ. Có lẽ như thế mà những ca khúc gần đây mới là cảm nhận nét lãng mạn, tài hoa, như mỗi loạt nhạc ra đời của Asia, và Anh Bằng nói riêng là thêm một đợt đón nhận mới, lạ kỳ!

Nhạc sĩ Anh Bằng thập niên qua đã có góp phần viết script, chọn nhạc, soạn nhạc, cùng đóng góp ý kiến trong việc chọn ca sĩ và ca khúc... góp sức đưa Asia lên mức thành công rất cao. Tâm niệm của Anh Bằng là “đáp ứng quần chúng, muốn người nghe thỏa mãn tâm sự của nghệ sĩ sáng tác; như vậy có nghĩa là tác phẩm đã thành công...”. Cũng như khi lập ra lớp huấn luyện nhạc trước 1975, ông cũng cũng có một lý do đặc biệt: “vừa đào tạo, vừa tìm kiếm ra tài năng mới”.

* Ðối thủ trong âm nhạc của Anh Bằng? Có hay không?

Ðã từng sống trong Lý Bá Sơ, từng đêm nghe tiếng cai tù đánh thức những người bạn đồng tù khác, thức dậy, trói ké, mang ra sân bắn hoặc mang đi điều tra hành hạ có lẽ là nỗi ám ảnh khôn nguôi trong đầu của nhạc sĩ... thiếu ăn, thiếu áo quần, thiếu một mảnh chăn đơn để che đắp cái rét giá tù đày... nhưng tác giả Anh Bằng luôn nở một nụ cười, không chua cay oán thù, dù “không bao giờ đội trời chung với chủ nghĩa và chính sách từ những năm trước 1954, và chủ nghĩa CS kéo dài những năm sau đó...”. Ðối với người nhạc sĩ đầy tấm lòng nhân ái này, ông luôn có một nụ cười tươi tắn cho cuộc sống, hầu như không bao giờ ganh ghét.

Không bận lòng với ai, chỉ phấn đấu say mê làm việc, thúc đẩy tự chính mình, nhưng luôn tươi tỉnh với một câu nói như giờ thúc quân (kinh nghiệm từ gian khổ). Ông thường thúc đẩy: “Khi làm việc thì phải tiến lên, phải ‘sắt máu’, ý của ông chỉ muốn diễn tả lòng quyết tâm. Ông không tranh giành với đồng nghiệp hoặc với một ai, vì bản tính chân chất hiền lành... nhưng có thể chỉ ngoại trừ với lập trường và vì lằn ranh trong cách sống?

Theo ông, qua những lần thổ lộ ở tại xứ người, thì: “Trong khi chúng ta cố mang lại những lạc quan, kêu gọi chiến đấu bảo vệ đồng bào, bảo vệ sự sống còn và nhân bản tại miền Nam thì lại có những người cố tình phản chiến, kêu gọi hòa bình bằng mọi giá như thể là họ luôn lên tiếng nói: chúng ta hãy đầu hàng đi!”.

Chế độ VNCH lúc ấy chẳng phải là không chặt chẽ trong chủ trương kiểm duyệt ca nhạc chiến đấu: Các ca khúc trước khi được in, được phát trên các đài phát thanh, hoặc trước khi được thu dĩa, đều trải qua những con mắt kiểm duyệt gắt gao. Vẫn theo ông “thậm chí có những sáng tác khi cho phát thanh, thu dĩa tạm gọi là “đầu Ngô mình Sở”, vì các con mắt kiểm duyệt, các sếp kiểm duyệt, mỗi viên chức, mỗi nhạc sĩ, thêm câu này, thay chữ kia, bớt, cắt chữ nọ, để thích hợp với chính sách... nâng cao tinh thần cùng chiến đấu”. Thế nhưng nói riêng về mặt tuyên truyền thì chúng ta làm sao mà cản nổi khi cứ 3 ca khúc phản chiến, kêu gọi buông súng thì chúng ta mới có kịp một sáng tác nỗ lực chiến đấu như của Anh Bằng, Duy Khánh, Trần Thiện Thanh, (1 sáng tác chống tàn ác, bảo vệ tự do thì có ngay 3 ca khúc phản chiến kêu gọi buông súng hòa bình mọi giá!!) khiến cán cân lực lượng tuyên truyền chúng ta bị xâm lấn bởi phe phản chiến, làm lợi cho đối phương... Chẳng hạn, khi Trịnh Công Sơn mô tả cảnh “các bà mẹ chết vì chiến tranh vì bom đạn” để phản chiến, thì nhạc sĩ Anh Bằng vội vã soạn ngay ra đời ca khúc có những hình ảnh tương tự, nhưng dưới con mắt của một chiến sĩ đấu tranh có chính nghĩa cho tự do: “Một bà mẹ ôm con chết trong tay mình nhưng cảm thông sự hy sinh chiến đấu của đất nước” là vì giặc phá hoại, và người dân Miền Nam, yêu chuộng tự do, nỗ lực “tự vệ”..., hoặc nói lên nỗi khổ chiến tranh qua ca khúc “Nó”, hoặc Ðêm Nguyện Cầu... Ðiều trái nghịch là một số những kẻ thụ hưởng trong miền Nam tự do thì thích âm nhạc phản chiến, trái lại rất nhiều cán binh cộng sản và dân chúng miền Bắc lại ưa chuộng tìm nghe, chép chuyền tay những lời nhạc về “người mẹ ôm con chết vì bom đạn của kẻ chủ trương chiến tranh” của Anh Bằng, hoặc ca khúc “Nó” “Ðêm Nguyện Cầu”, “Nỗi Lòng Người Ði” để soi chiếu lại cuộc đời của họ quá nhiều bất hạnh: Các cán binh miền Bắc vẫn lén lút thích thú say mê ca khúc “Tôi xa Hà Nội năm lên 18 khi vừa biết yêu”... như những món hàng “độc”, được ưa chuộng và đánh giá cao... Phải chăng trước những trách nhiệm tự chọn lựa qua cuộc sống dân sự, trong vai trò Tâm Lý Chiến, tác giả Anh Bằng cũng phải đối kháng với Trịnh Công Sơn, mỗi người một lý tưởng. Theo lời anh Trần Minh: “Nhạc Sĩ Anh Bằng muốn dùng nhạc của mình góp phần làm suy thoái tinh thần sát máu của các chiến binh sinh Bắc tử Nam, với ước mong miền Nam được yên bình, giặc từ Bắc không thể xâm lấn vô Nam... Những kẻ phản chiến, hình như, đã góp phần làm mất miền Nam, là nỗi đau đớn suốt trong quá trình những sáng tác phản chiến đó ra rả tại nhiều nơi trong và ngoài thành phố.”

Nỗi đau đớn này dằn vặt tác giả Anh Bằng, khiến ông giới hạn nhạc tình của mình để hướng vào góp phần trực tiếp hoặc gián tiếp qua những ca khúc ca ngợi cuộc chiến đấu cho tự do dân chủ.

Có lẽ cho đến hơn 33 năm sau miền Nam thất thủ, tâm sự của nhạc sĩ Anh Bằng qua thổ lộ vẫn chưa nguôi ngoai... Lý do chỉ giản dị có thế... Theo lời anh Trần Thăng, giám đốc/sáng lập Hollywood Night/Dạ Lan nói: những người như ông “không ngại chống lại một chủ nghĩa sai lầm, với tiếng nói và tấm lòng chân thật.”

Ông vẫn có thổ lộ đôi lần: “Tương lai, một đất nước Việt Nam, rồi sẽ không còn CS”, hình như ông luôn lạc quan như thế, “nhưng không hẳn chúng ta chỉ ngồi chờ đợi sự sụp đổ, ta phải góp phần tích cực thì ngày ấy sẽ đến”...

Một đời tận tụy, với trên 500 sáng tác, trong đó rung cảm của ông trải ra với độ 200 bài phổ thơ. Nhưng trên tất cả vẫn là một tấm lòng trọn vẹn với đất nước của một nghệ sĩ có lý tưởng, dù rất thành công nhưng xem ra ông vẫn thấy không được như mơ ước: Quân đội đã là lò luyện thép nhưng cũng là tháp ngà cho một số người khác kiêu binh. Anh Bằng đã hưởng những phúc lợi từ các lò luyện thép và có những người cũng đã “đứng dậy được” sau những “cú đấm thôi sơn” của vận nước mà không thiếu gì những người đã cũng như tiếp tục gục ngã, mà có mấy ai vững niềm tin “sau cơn mưa trời đã lại sáng’... Riêng Anh Bằng, như người tù vượt ngục Papillon, đã “đứng dậy được”...

Và bao nhiêu năm đã trôi qua, nước chảy qua cầu, tác giả Anh Bằng với trái tim nhân ái, nụ cười hiền lành từ thời học tập ở Ba Làng (cùng chất chứa đau thương Lý Bá Sơ sau đó), tấm lòng với âm nhạc luôn tươi tắn, nhạc tình Anh Bằng cuối đời vẫn thêm mới mẻ, đi vào từng trái tim, và ở lại lâu dài (so với sự đào thải nói chung... nhanh đến độ tàn nhẫn hiện nay, nhất là tình trạng nhạc trong nước), qua một số sáng tác mãnh liệt và lâu bền, vừa lòng mọi giới mộ điệu ở trình độ thưởng ngoạn khác nhau.

Vẫn đi tiếp một quãng đời, khởi đi từ một bản án tử hình, chàng trai Anh Bằng lúc nào cũng như mới lớn 18 tuổi, tươi tắn nhựa sống, dù nay ông đã bước qua sinh nhật thứ 81.

* Người biến những cô Tấm thành siêu sao Diva nhạc Việt

Ngày xưa ông đã sáng tác có “Chuyện Tình Lan và Ðiệp”, bây giờ qua Hoa Kỳ ông lại tiếp tục sáng tác có Chuyện Tình Hoa Sim, Chuyện Hoa Trắng, Chuyện Giàn Hoa Thiên Lý: Ðề tài cũ nhưng vẫn được đón nhận và hay vượt trội, ngoài ra còn có ca khúc, ý thơ của Nguyễn Tất Nhiên: Trúc Ðào...

Tuy vậy những năm đầu khi chưa thành Trung Tâm Ca nhạc tại Hoa Kỳ, ông đã có những ca khúc sáng tác như: Huế Xưa, Cõi Buồn được đánh giá là cũng hay, nhưng không được hưởng ứng nồng nhiệt.

Sang đây, Chuyện Tình Hoa Sim làm kỷ niệm vào nghề của Như Quỳnh, khi cô mới tới Hoa Kỳ. Ngày ấy, Như Quỳnh được nhạc sĩ Trúc Giang, thân sinh nhạc sĩ lắm tài Trúc Hồ (đang nối nghiệp tài năng nhạc Anh Bằng?) giới thiệu tại nhà thờ Tam Biên quận Cam-Cali, và cùng với dòng nhạc lãng mạn tình tứ, Như Quỳnh là mặt nổi của dòng nhạc Anh Bằng được đại chúng yêu mến. Những tài danh 10 năm qua, 20 năm qua, hoặc 40 năm về trước... và mới nay thôi cũng chỉ là một sự nối tiếp: Anh Bằng đã từng gò luyến láy những năm xa xưa cho Phương Dung, Thanh Thúy, Thanh Tuyền. Sự nổi tiếng của những tên tuổi này trong làng âm nhạc, từ trong nước đến hải ngoại, nói lên được rằng, cây đũa thần đủ sức biến cô Tấm thành công nương được hay không?

Nơi đây, với nhạc sĩ Anh Bằng trong vài chục năm qua, câu trả lời là có “tên tuổi thành danh là một initial cho một bài mới sáng tác”. Khác với nhiều người nói chung - chưa kịp được khen ngợi đã bị loại bỏ - quên lãng, chính vì đó là những cái hay ngay từ bước đầu, giống như chương trình thương mại Anh Bằng góp công sức ngày xưa thật khó khăn, nhưng thành công ngay. Ðịnh luật chung: Phải tài hoa mới được trao phó cho, để tạo được những bước nổi lên đình đám... Một ca khúc mới, một bài thơ mới, một tiếng hát mới, có nổi được trên sân khấu (hoặc có cơ hội bước được lên sân khấu) và được vang dội khắp nơi, cũng đã là chuyện khó.

Tác giả Anh Bằng đôi lần thổ lộ rằng: “Tôi không muốn tác phẩm bị cô đơn, lẻ loi trong âm nhạc, không muốn bài hát mình nghĩ là hay, mà chỉ dành riêng cho vài người hay để chỉ một giới người thích và hiểu được, mà đã sáng tác là phải đụng tới một khối lớn đa số quần chúng yêu thích”. Theo ông, “sẵn lòng xóa bỏ một sáng tác, khi nghĩ rằng sự ra đời ca khúc nào đó sẽ không chiếm được đa số quần chúng đón nhận”.

Chính vì vậy mà ở kết hợp “Ý thơ cùng với mélody” phải vang vọng trong tâm tưởng. Tác giả phải ngồi xuống bàn vào buổi chiều, có khi cạnh người cháu Trần Khải (hoặc Trần Thăng sau này là giám đốc Hollywood Night- Dạ Lan) cận kề tán thưởng: Những ngón đàn guitar dạo mélody của ông, thường được tâm sự chia sẻ, trao đổi với người thân khi sáng tác, khi ca khúc vừa kết thúc...

Nhưng ngược lại, hầu như ông không hề khuyến khích các người con ông theo ngành sáng tác âm nhạc? Không một lời giải thích của tác giả vì sao? Có thể các người con không có một quá trình dài học nhạc như ông tại Ba Làng, không có hoàn cảnh thúc đẩy cần thiết, không trải qua những kinh nghiệm lẫn thương đau?
Và sáng tác tiếp nối sáng tác thành tác phẩm được đón nhận, chỉ giản dị đắm say trong vài giờ viết nốt với chữ viết luôn trân trọng và đẹp (và ngày nay thì nhạc sĩ Anh Bằng sáng tác-gõ nốt nhạc trên máy điện toán). Những bản nhạc ấy chẳng mấy lâu sau sẽ đồng loạt phổ biến xa rộng, và “một sớm một chiều” được hưởng ứng, ngưỡng mộ...
Còn ngày nay, cung cách sáng tác không khác, ông dựa trên ý tưởng lời thơ, tươi vui bên phím điện toán... có khác chăng là Anh Bằng đi ngược lại với thời gian, sống lại với đồi sim tím mênh mang quê nhà Hữu Loan, tím cả chiều hoang biền biệt càng ngày nhạc càng thêm trẻ và căng đầy sức sống...

Nhạc sĩ Anh Bằng thường tâm sự: từ kinh nghiệm học ở Ba Làng, ông được hun đúc sức sống và tận tụy làm việc mãnh liệt và cương quyết.

Còn bây giờ là lúc nhìn thấy các hậu duệ đã vững vàng trên đường sự nghiệp, thì ông bắt đầu thanh thản và an nhiên... Những năm lao động khổ sai, khi lãnh án tử hình của Lý Bá Sơ, đói khổ là hành trang để ông thêm trân trọng tự do, nhân bản mà mình được hưởng ở Miền Nam, và ở cả bên ngoài nước Việt Nam ngày nay.

Phạm Kim 
(Chủ Nhiệm Tuần Báo Người Việt Tây Bắc - Seatle, WA)

13/11/15

Chính quyền có thể vô cảm, chứ người dân thì không..


Sự kiện luật sư Trần Vũ Hải bj bẳt giữ thô bạo, tiếp sau việc hai luật sư Trần Thu Nam và Lê Luân bị tấn công tàn bạo và nhất là trước sư giải quyết vụ việc lại xúc phạm nặng nề đến nhân phẩm, tính mạng của 3 vị luật sư trên của ngành CA, ở đây là CA Hà Nội thì thật khôi hài, ngớ ngẩn và thậm chí là vô trách nhiệm. 


Sự bức xúc đến mức phải tuyệt thực, thậm chí cả muốn tự sát của LS Trần Vũ Hải  (điều này thì chúng tôi vô cùng không muốn xảy ra), cùng hai gương mặt sưng vù đầy máu me của hai luật sư Thu và Luân đã chứng tỏ những vụ việc của họ là nghiêm trọng lắm với những con người vốn là những trí thức luôn tôn trọng pháp luật. Nhưng CA HN thì vẫn tắc trách, thiếu nghiệp vụ và thiếu cả tình người khi xử lý vụ việc, đẩy đưa 3 vị luật sư từ nạn  nhân bỗng biến thành những tội phạm giơ đầu chịu báng. 

Ngành CA nói riêng và chính quyền Việt Nam nói chung luôn là những người vô cảm với những nỗi đau, nỗi đớn của người dân thường Việt Nam. Những cái chết bí ẩn, mờ ám trong đồn CA, tiếng gào thét kêu oan của ba gia đình tử tội đang chờ thi hành án, hàng ngàn tiếng kêu khóc kêu oan vang thấu Trời xanh của bao gia đình dân oan đều như lọt ngoài tai của những ông bà lãnh đạo cả ngành lẫn chính quyền. Họ như vô cảm trước nỗi đau mất mát của người dân...

Nhưng người dân chúng ta thì không. Khi cộng đồng người Việt Nam lên tiếng thì nhiều số phận đã được giải thoát như ba tử tội đã được tạm thời thoát án tử, những người dân oan đã có miếng ăn, miếng áo ấm lòng qua những tấm lòng thiện nguyện. Và nhất là giờ đây, qua vụ việc của LS Trần Vũ Hải thì chính quyền nên rút ra một bài học. Đó là không thể tuỳ tiện muốn chụp mũ phản động cho ai thì chụp, muốn bắt ai thì bắt. Giờ đây có cả một cộng động hàng triệu người trên mạng, trên các đường phố sẵn sàng vào cuộc nếu như thấy có sự bất minh trong đó. Thời của chính quyền muốn làm gì thì làm, muốn bắt ai thì bắt đã qua rồi, vĩnh viễn qua rồi. 

Giờ đây thì người dân đã không còn sợ hãi nữa, họ đã lấy lại các quyền khôngt thể tách rời của chính họ, đó là quyền sống, quyền tự do và quyền xây dựng hanh phúc. Người trí thức, hay người lao động bình thường đều phải có những quyền cơ bản đó, Quyền Làm Người, chứ không nín nhịn mãi để chính quyền đè đầu cưỡi cổ với cái roi sắt có tên là Công An Trị luôn sẵn sàng ra roi. Người dân từ nay không còn để cho chính quyền muốn làm gì thì làm, không để cho CA muốn tự tung tự tác mãi được. 

Có quá nhiều bài học mà ngành CA cùng chính quyền phải học. Rằng mọi việc phải đúng pháp luật, đúng tình người, chứ không thể duy ý chí, không thể cậy thế ỷ quyền để hành động thô bạo, phi luật pháp được nữa. Mọi việc, lớn hay nhỏ giờ đây đã đều được hàng triệu quan toà, hàng triệu người dân xem xét.

Trở lại với những vụ việc như đã nói bùng lên làm xôn xao cả cộng đồng trong lẫn ngoài nước thì mới thấy được tình nghĩa đồng bào tương thân tương ái với nhau của rất, rất nhiều tấm lòng người Việt Nam với  nhau, nhất là trong hoạn nạn, trong khó khăn chia ngọt sẻ bùi.

Những người dân oan phải lang thang trên phố Hà Nội nhiều năm nay, gia đình những người tử tù oan, những số phận lăn lóc, cay nghiệt và vô tâm củnhững người có trách nhiệm thì dường như lại được cộng đồng chúng ta chia sẻ, tương trợ nhiều hơn, và cũng đầy tình người hơn từ các cá nhân trong cộng đồng người Việt Nam chúng ta. Những tấm lòng vàng của các cá nhân có danh và vô danh, luôn dành những nỗ lực âm thầm và không mệt mỏi cho những số phận thiệt thòi, bất công. Đấy là cái tâm, cái tình luôn dành cho đồng bào của mọi người Việt Nam chúng ta ở cả trong và ngoài nước. Và chứng tỏ rằng, chúng ta là người cùng một tổ tiên, một cội nguồn Việt Nam và chúng ta không hề vô cảm, vô tình.

Chỉ trong gian khổ, trong bão giông và trong cuộc đối đầu sinh tử với bạo quyền thì những phẩm chất tốt đẹp của tình đồng bào, nghĩa ruột thịt ấy mới bùng cháy trong huyết quản của mỗi người dân Việt chúng ta.

Nên lúc này đây ta sẽ thấy các ông tiến sĩ chạy lăng xăng giúp ông luật sư gặp nạn. Ta thấy bà con dân oan cũng xuống đường làm nghĩa hiệp, đóng vai công tử Lục  Vân Tiên giải cứu ông luật sư "Kiều Nguyệt Nga" tên Trần Vũ Hải gặp ách giữa đường. Rồi trước đó thì ông nhạc sĩ Trí Hải bị đập vỡ cây đàn đã được cộng đồng mạng quan tâm nhiều như thế nào. Tất cả đều nhiều hơn những gì mà mọi người có thể tưởng tượng ra. Vụ việc Luật Sự Oan này, nếu sớm kết thúc thì tốt, nhưng nếu kéo dài, và lại gặp cảnh đàn áp của chính quyền thì ta sẽ thấy có nhiều người dân  ủng hộ cho họ nhiều hơn, đông hơn và nhiệt tình hơn. Đó là cái Đạo ông bà ta đã ăn sâu vào máu thịt người dân ta, hễ gặp cảnh bất công, cho dù người gặp nạn là ai, gặp chuyện gì. Miễn là người gặp nạn đó là chính nghĩa, là ngay thẳng thì người dân ta không bao giờ vô cảm, vô tình với họ. Mà luôn ở bên họ, ở cùng họ...

Chính quyền có thể vô cảm, nhưng người dân thì không.

MTA