07/07/2016

Cuộc chiến 1979 với Trung Cộng - Khả năng điều động binh lực của Việt Nam


Để tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược 17-2-1979, Trung Quốc đã tập trung quân sẵn sàng từ giữa tháng 1-1979, còn về phía Việt Nam thì sao? Ta sẽ nắm tình hình hai bên, quân số, ý đồ tấn công..v..v..


Cuoc chien tranh 17-2-1979:Kha nang dieu dong binh luc cua Viet Nam
Trung Quốc nổ súng tấn công Việt Nam
5h sáng ngày 17-2-1979, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Quốc chính thức bắt đầu. Quân đội Trung Quốc đã tấn công vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam, dọc theo biên giới kéo dài đến 900 km, từ điểm tây bắc là Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến điểm đông bắc ở Pò Hèn (Quảng Ninh).
Hơn 60 vạn quân được sự yểm trợ của gần 800 xe tăng, xe bọc thép và hàng ngàn khẩu trọng pháo đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam (từ tây bắc sang đông bắc theo tuyến biên giới là Lai Châu, Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh).
Theo Nhân dân Nhật báo Trung Quốc, cánh quân Quảng Tây (phía đông) do Hứa Thế Hữu chỉ huy, bao gồm các Tập đoàn quân (TĐQ) 41, 42, 43, 54, 55 và 50 (thiếu sư 149, phối thuộc cho cánh quân Vân Nam), tiến công vào đông bắc Việt Nam với trọng điểm là Lạng Sơn và Cao Bằng.
Trong đó, hướng Lạng Sơn do Tập đoàn quân 43, 54, 55 phụ trách, còn hướng Cao Bằng do Tập đoàn quân 41, 42, 50 đảm nhận nhiệm vụ tấn công.
Cánh quân Vân Nam (phía tây) do Dương Đắc Chí – tư lệnh Đại Quân khu Thành Đô chỉ huy, bao gồm các Tập đoàn quân 11, 13, 14 và sư 149/quân đoàn 50 đảm nhiệm tấn công vào hướng tây bắc Việt Nam, với trọng điểm là Lào Cai (trước thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, nay tách ra thành Lào Cai và Yên Bái).
Hướng Hoàng Liên Sơn do quân đoàn 13, 14 phụ trách tấn công; hướng Lai Châu có quân đoàn 11; hướng Quảng Ninh, Hà Giang (trước thuộc tỉnh Hà Tuyên, nay tách thành Hà Giang, Tuyên Quang) mỗi nơi cũng có từ 1-2 sư đoàn.
Cuộc chiến nổ ra giữa lúc phần lớn các quân đoàn dự bị chiến lược của Việt Nam đang ở măt trận biên giới Tây Nam. Khi đó, lực lượng thường trực của các Quân khu I, II và lực lượng tăng cường từ các Quân khu khác như sau:
Cuoc chien tranh 17-2-1979:Kha nang dieu dong binh luc cua Viet Nam
Để tấn công Việt Nam, quân Trung Quốc đã chuẩn bị từ nhiều tháng trước
Lực lượng không quân, hải quân
Sau khi Trung Quốc nổ súng tiến công Việt Nam, Bộ Quốc phòng nước ta đã ra quyết định điều một phần lực lượng Sư đoàn không quân 372 (đoàn Hải Vân) ra Bắc làm nhiệm vụ.
Từ ngày 18-2 đến 3-3-1979, các phi đội máy bay của sư đoàn này, thuộc Trung đoàn không quân 917 (đoàn Đồng Tháp), 935 (đoàn Đồng Nai) và 937 (đoàn Hậu Giang) đã lần lượt bay ra Bắc, nhận nhiệm vụ thường trực sẵn sàng chiến đấu.
Số lượng máy bay cụ thể được điều động bao gồm 10 trực thăng UH-1, 3 máy bay trinh sát U-17, 10 máy bay cường kích A-37, 10 máy bay tiêm kích bom F-5. Các máy bay này lần lượt được triển khai ở các căn cứ không quân Hòa Lạc, Kép, Bạch Mai và Nội Bài.
Ngoài ra, các phi đội tiêm kích MiG-17, MiG-21 của Sư đoàn không quân 371 (đoàn Thăng Long) làm nhiệm vụ bảo vệ không phận miền Bắc đã được đặt trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao độ ngay từ ngày đầu Trung Quốc mở cuộc chiến tranh xâm lược.
Ở phía Nam, trực thăng và máy bay vận tải của Trung đoàn không quân 916 (đoàn Ba Vì), Đoàn 918 và Đoàn 919 Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam cũng phối hợp với không quân Liên Xô, khẩn trương tập kết và vận chuyển Quân đoàn 2 từ mặt trận biên giới Tây Nam lên biên giới phía Bắc.
Ngoài ra Đoàn bay 919 còn sử dụng máy bay vận tải IL-14 (có tiêm kích MiG-21 yểm hộ) bay nhiều chuyến thả dù tiếp tế cho lực lượng vũ trang ta ở khu vực xã Canh Tân-Minh Khai, Thạch An (Cao Bằng).
Cuoc chien tranh 17-2-1979:Kha nang dieu dong binh luc cua Viet Nam
Máy bay vận chuyển vũ khí, trang bị và hàng hóa
Tuy Việt Nam đã triển khai lực lượng máy bay tiêm, cường kích khá đông đảo, lại vừa trải qua thực tế cuộc kháng chiến chống Mỹ nên trình độ tác chiến của các phi công rất điêu luyện, nhưng chúng ta không kịp sử dụng đến. 
Bên cạnh đó Việt Nam cũng triển khai toàn bộ lực lượng tàu thuyền bảo vệ chủ quyền lãnh hải trên biển Đông. Tuy nhiên, thời điểm đó, Liên Xô cũng đã phái tới gần 30 chiến hạm rất mạnh đến lập thành hàng rào trên biển, nhằm tạo sự răn đe với lực lượng hải quân Trung Quốc và cả hải quân Mỹ.
Lực lượng phòng thủ tại chỗ của các quân khu
Vào thời điểm đó, 3 trong số 4 Quân đoàn chính quy đang tập trung ở khu vực phía Nam, nên phòng thủ ở biên giới với Trung Quốc chỉ có một số sư đoàn chủ lực quân khu (phần lớn là tân binh) của Quân khu I và II cùng các đơn vị bộ đội biên phòng, bộ đội địa phương tỉnh, huyện; công an vũ trang (biên phòng), du kích xã và dân quân – tự vệ.
Lực lượng tinh nhuệ nhất của phía Việt Nam đứng chân trên khu vực biên giới Việt-Trung là Sư đoàn 3 (đóng ở Lạng Sơn) và sư đoàn 316A (đóng tại Sa Pa). Ngoài ra, còn có các sư đoàn 346 ở Cao Bằng, 325B ở Quảng Ninh, 345 ở Lào Cai, sư đoàn 326 ở Phong Thổ, Lai Châu.
Lực lượng độc lập của ta gồm các trung đoàn 141, 147, 148, 197, trung đoàn pháo binh 68, các trung đoàn quân địa phương 95, 121, 192, 254 và 741.
Để đối phó với lực lượng tấn công tới 60 vạn quân của Trung Quốc, lúc đó lực lượng phòng thủ biên giới của chúng ta chỉ có tổng cộng khoảng 7 vạn quân.
Trong mấy ngày sau, Bộ quốc phòng đã quyết định điều động thêm 2 sư đoàn của Quân khu III (sư 327) và Quân khu IV (sư 337) tăng viện cho Quân khu 1, tuy nhiên mãi đến cuối giai đoạn 2, lúc cuộc chiến sắp tàn thì sư đoàn 337 mới triển khai quân tham chiến.
Ngoài ra, chủ lực của Quân đoàn 1 và Quân đoàn 2 cũng chỉ lên biên giới khi quân Trung Quốc tuyên bố rút quân. Do đó, từ ngày 17-2 đến ngày 5-3, lực lượng chủ chốt trong thế trận phòng thủ biên giới của quân dân ta chính là các lực lượng phòng thủ tại chỗ này.
Điều này càng cho thấy một thực tế là chỉ bằng các lực lượng phòng thủ tại chỗ của các Quân khu I và II, quân và dân ta đã anh dũng đánh bại chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của Trung Quốc.

Bức huyết thư của một cựu binh xung phong tái ngũ giết giặc
Lực lượng tăng cường cho các Quân khu
Cuộc chiến nổ ra giữa lúc phần lớn các quân đoàn dự bị chiến lược đang còn ở mặt trận Tây Nam. Để tăng cường sức mạnh, Bộ Quốc phòng đã huy động lực lượng tuyến sau lên.
Ngày 18-2, Quân khu III tổ chức bổ sung sư đoàn bộ binh 327 (gồm Trung đoàn bộ binh 42, 75, 540 và Trung đoàn pháo binh 120) từ Quảng Ninh lên lên biên giới phía bắc tham gia chiến đấu trong đội hình Quân khu I.
Đến 19-2, Quân khu IV cũng được lệnh triển khai sư đoàn 337 (gồm Trung đoàn bộ binh 4, 52, 92 và Trung đoàn pháo binh 108) tiếp viện cho Quân khu I. Sư đoàn đã hành quân bằng cả tàu hỏa và xe vận tải từ Nghệ An ra bắc, lên tiếp viện thẳng cho mặt trận chính ở Lạng Sơn.
Ngày 25 tháng 2, Quân đoàn 14 thuộc Quân khu I, Quân đội Nhân dân Việt Nam cùng Bộ chỉ huy thống nhất Lạng Sơn được thành lập tại Mai Sao, lực lượng bao gồm các Sư đoàn 3, 327, 338, 337 và sau này có thêm Sư đoàn 347 cùng các đơn vị trực thuộc khác.
Bắt đầu từ ngày hôm đó, các đơn vị này đều được triển khai phòng thủ tại điểm nóng nhất lúc này là mặt trận Lạng Sơn (trừ sư 337 đang từ Quân khu IV ra, mãi đến ngày 2-3 mới triển khai xong đội hình ở khu vực cầu Khánh Khê).
Bộ Quốc phòng còn tăng viện thêm Trung đoàn pháo phản lực 204 (có một tiểu đoàn pháo phản lực BM-21 vừa được Liên Xô viện trợ) Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn 98 thuộc Sư đoàn công binh 473, Lữ đoàn công binh 229 (đoàn Sông Đà), đơn vị súng phun lửa của Trung đoàn phòng hóa 86…, cho chiến trường Lạng Sơn.

Bộ đội Việt Nam hành quân ra mặt trận
Ngoài ra, Quân khu I chủ động điều lực lượng dự bị tăng cường cho các hướng. Trung đoàn 197 Bắc Thái được phái đến chi viện cho hướng thị xã Lạng Sơn và Trung đoàn 196 Hà Bắc bổ sung lực lượng cho hướng Đình Lập.
Quân khu I đã thành lập thêm Sư đoàn bộ binh 311 trên cơ sở Trung đoàn 38 Sư đoàn 473, được tuyển lựa thêm tân binh mới gia nhập quân ngũ và những cựu binh chiến tranh chống Mỹ vừa tái ngũ, đồng thời tiến hành các hoạt động tác chiến vào sâu trong hậu phương địch.
Hướng Cao Bằng được tăng cường Trung đoàn 183 Hải Hưng, Tiểu đoàn đặc công 45, tiểu đoàn pháo tầm xa 122mm của Lữ đoàn pháo binh 675, tiểu đoàn tên lửa chống tăng B72, Trung đoàn 38 của Sư đoàn công binh 473, Tiểu đoàn 126, 127 bộ đội địa phương tỉnh Bắc Thái (sau này tách thành tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn) cùng một số tiểu đoàn tự vệ của nhà máy gang thép Thái Nguyên, công ty xây lắp luyện kim…
Hướng Hoàng Liên Sơn cũng được tăng cường một số đơn vị, trong đó có tiểu đoàn pháo tầm xa của Lữ đoàn pháo binh 368…
Tính chung, tổng cộng 2 sư đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn đặc công, 2 tiểu đoàn pháo tầm xa và 25 tiểu đoàn dự nhiệm cùng nhiều đơn vị binh chủng và dân quân tự vệ các địa phương của Quân khu 1, 2, 3, 4 và Thủ đô Hà Nội đã được điều động lên biên giới tham gia chiến đấu hoặc sẵn sàng chiến đấu.
Lực lượng chủ lực chưa kịp tham chiến...
Khi Trung Quốc nổ súng xâm lược, lực lượng chủ lực duy nhất ở ngoài bắc là Quân đoàn 1 triển khai lực lượng xây dựng một phòng tuyến bảo vệ thủ đô Hà Nội, chuẩn bị cho tình huống xấu nhất là Trung Quốc đột phá qua tuyến phòng thủ biên giới, tiến sâu xuống vùng châu thổ sông Hồng.
Đến giai đoạn 2 của cuộc chiến (theo tuyên bố của Trung Quốc), Việt Nam đã quyết định tung lực lượng chủ lực tham chiến.
Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang) – lực lượng chủ lực của Bộ quốc phòng, đang làm nhiệm vụ tại mặt trận biên giới Tây Nam ngày 27-2 được lệnh cơ động gấp toàn bộ lực lượng lên mặt trận biên giới phía Bắc tăng viện để quét sạch quân Trung Quốc.
Tuy nhiên, trước tình hình chiến sự ngày càng trở nên quyết liệt ở khu vực thị xã Lạng Sơn và phần lớn lực lượng chủ lực của Quân đoàn 2 chưa về kịp, vào ngày 3-3, Bộ Quốc phòng đã quyết định sử dụng đến các đơn vị chủ lực cơ động chiến lược của Quân đoàn 1 (tức Binh đoàn Quyết Thắng).
Ngày 3-3 Quân đoàn 1 điều động Sư bộ binh 320B (sau này đổi thành 390 – đoàn Đồng Bằng, gồm Trung đoàn bộ binh 27, 48, 64 và Trung đoàn pháo binh 54) được tăng cường Trung đoàn bộ binh 209 (đoàn Sông Lô) thuộc Sư đoàn bộ binh 312 (đoàn Chiến Thắng) và tiểu đoàn pháo tầm xa 130mm của Lữ đoàn pháo binh 45 (đoàn Tất Thắng) cấp tốc hành quân lên Lạng Sơn.

Lực lượng pháo binh Việt Nam giáng trả cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc
Tối 4-3, các đơn vị này đã triển khai sẵn sàng trên tuyến chiến đấu Chi Lăng-Đồng Mỏ-Hữu Kiên, nhưng chưa kịp tham chiến thì Trung Quốc tuyên bố rút quân, ngay sau khi Lệnh tổng động viên toàn quốc để quét sạch bè lũ xâm lăng của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng được công bố vào ngày hôm sau – 5/3.
Trong khi đó, các trung đoàn máy bay vận tải, trực thăng vận tải Việt Nam và Liên Xô đã dùng máy bay vận tải chuyên chở lực lượng của Quân đoàn 2 về mặt trận.
Tuy nhiên, việc bốc một số lượng lớn bộ binh và vũ khí trang bị từ khoảng cách rất xa là điều không hề đơn giản, nên mãi đến khi quân Trung Quốc sắp rút hết về nước thì lực lượng chủ lực của quân đoàn này mới kịp triển khai lên biên giới.
Cuộc chuyển quân thần tốc bằng cả đường biển, đường bộ, đường sắt và đường không bắt đầu từ ngày 6-3, đến 11-3 những đơn vị đầu tiên của quân đoàn gồm Sư đoàn bộ binh 304 (đoàn Vinh Quang), Lữ đoàn pháo binh 164 (đoàn Bến Hải), Lữ đoàn phòng không 673, tiểu đoàn trinh sát… đã về tới Hà Nội.
Theo dự kiến ban đầu, hai sư đoàn 320B và 304 sẽ phối hợp phản công trên hướng Bản Chắt (Đình Lập) nhưng do về muộn nên lúc đó, quân đội Trung Quốc đã rút chạy, sau khi ta tuyên bố tung một phần lực lượng của Quân đoàn 1 lên biên giới.
Sau khi chiến dịch hiệp đồng phản công của 2 sự đoàn này được ngừng lại, một bộ phận của Sư đoàn 304 đã kịp thời chuyển lên tham gia đánh địch tại Trà Lĩnh (Cao Bằng). Ngoài ra, các sư 337, 338 cũng kịp tham gia các trận truy kích tàn quân Trung Quốc rút lui qua ngả Chi Mã.

Chủ lực Việt Nam chưa kịp tham chiến thì Trung Quốc đã tuyên bố rút quân
Thực tế cho thấy, khả năng dự báo trước tình hình của chúng ta là chưa tốt nên bị động trong thời gian đầu cuộc chiến.
Tuy nhiên, điều này lại làm nổi bật khả năng huy động lực lượng tại chỗ, khả năng điều chuyển các đơn vị dự bị, khả năng tái cơ cấu các đơn vị rút lui từ chiến trường ra và thành lập các đơn vị mới phù hợp với đặc điểm tình hình của Việt Nam là rất tốt.
Việc chỉ sử dụng lực lượng bộ đội địa phương, dân quân du kích tại chỗ và một số ít lực lượng tăng viện tham chiến đã cho thấy, quân và dân các tỉnh phía Bắc Việt Nam đủ sức chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc mà vẫn chưa dùng đến quân chủ lực.
Với lực lượng chỉ bằng gần 1/6, 1/7 của kẻ thù lại phần lớn là dân quân du kích nhưng Việt Nam đã gây tổn thương nặng cho quân địch cả về lực lượng và trang bị, đẩy lùi chúng ra khỏi biên giới, bảo vệ thắng lợi miền Bắc, viết thêm một trang sử hào hùng trong lịch sử chống ngoại xâm phương Bắc của dân tộc.
(Theo Đất Việt)

Không có nhận xét nào: