31/05/2016

Đấu tố hay chỉ là một màn diễn rẻ tiền...






Việc VTV đưa MC Phan Anh ra trong chương trình 60 phút khá thành công nhưng cuối cùng vẫn bị bể mánh lòi đuôi ra là một chương trình hai thì, vừa giống một cuộc đấu tố mini, lại vừa giống một vở diễn hạng hai.



Có lẽ lúc đầu các ông lớn ở VTV chỉ muốn phê bình MC Phan Anh thôi. Chứ đưa một nhân viên ra thì "xấu chàng hổ ai", vì VTV cũng có nhiều xấu hổ rồi. Nhân thể cũng àm luôn một chương trình quảng cáo PR cho Tuyên Ráo để phổ biến việc lờ tịt đi vụ cá chết. Chính quyền muốn quên vụ cá chết lẫn nghi án Formosa đi thì em dại Phan An lại đưa hũ mắm về nhà. Nên sẵn có em bị cáo Phan Anh rồi, muốn nói gì cũng gật trên có ngay một vở diễn do các tay thợ mông má ở VTV chế biến ra ngay. Một siêu phẩm sẽ đáp ứng yêu cầu, nhất cử lưỡng tiên.

Việc Phan An chia sẻ trên FB vụ 2 con cá là việc thật, nhưng anh ta cũng tin và lấy nguồn tin ở đó từ các nhà báo khác thả cá vào chậu nước biển múc từ Vũng Áng, Hà Tĩnh Nhưng chỉ được hơn 1 phút thì 2 em cá vắn số đó lăn ra chết tốt. Ghê thật, không biết nước Vũng Áng lợi hại đến thế. Chả biết đúng sai thế nào nhưng Phan Anh đã phạm tội rất lớn với các đầu lĩnh ở Ba Đình. Đang trong một thời điểm nhạy cảm như thế, các nhà lãhn đạo chen nhau đi trốn để tránh phải lo vụ cá, tránh phải nhắc đến chữ cá. 

Còn chuyện đưa cá vào nước biển Vũng Áng mà còn sống thì mới lạ, chứ cá chết thì cũng bình thường, đúng quy trình. Đến thợ lặn Formosa còn lăn ra chết thì 2 con cá chết có nghĩa gì. Cũng may mấy anh tỉnh ủy, chủ tịch Đà Nẵng cùng đoàn đệ tử sao không về thăm quê hương Vũng Áng. Ở đó bơi lội, tắm biển thì tuyệt. Rồi còn hải sản ngon lành nữa chứ. Đảm bỏ có đi không có về. 

Trở lại chuyện con cá chết thì cả tỷ con chết từ đầu tháng tư đến giờ có sao đâu. Chuyên ma ăn cỗ, bố thằng nào biết được vì Vũng Áng đã nội bất xuất, ngoại bất nhập rồi. Vậy mà thằng MC kia lại lôi về và phát tán đến cháy cả mạng thì có bỏ mẹ không chứ. Thằng trời đánh ấy cứ tưởng có công nên phơi phới ôm bom chạy trước oto và để bài phát tán trên mạng, kiếm được hàng chục ngàn lai, và hàng ngàn chia sẻ. 

Thằng nớ mặt đâu có ngu mà sao nó khùng thế. Biển miền Trung cá chết dài dài, mà có ai làm chính quyền mất cái lông nào đâu. Chỉ cần suy luận thôi thì cũng thấy các quan nhà ta nói đúng. Cần phải quán triệt, nhập tâm lời dạy. Đã là cá thì cũng như người thôi. Có sanh tất có diệt. Cá phải chết chứ cá nào lại không chết. Có cá nào không chết khi đến tuổi "Nhân sinh thất thập cổ lai hy", khi bác Các Mác, bác Lê Nin và các bậc CM đàn anh khác gọi mời đâu. 

Bây giờ tính nhé. Loại bỏ đi những con cá chui vào bụng nhân dân thì biết. Cái chết cúa cá là do nó già nó tử. Nó buồn buồn nó cũng đai, nó vui vui thì nó cũng đi bán muối. Còn nếu cá thành niên, vị thành niên mà chết trẻ thì đúng là ghen tuông, tình tay ba tay tư rồi. Cũng có thể con cá này chạy xe bố láo, tuổi trẻ mà, rồi tung bụi bẩn vào người ta mà phải trả nghiệp sơi đòn. Cũng có khi bị bắt bỏ vào chậu nhưng nó lại bị con cá khác đánh đến chết vì tội rửa bát bẩn. Chưa kể bây giờ tại nạn giao thông cũng chết nhiều vô kể. Cũng có cái chết là do vô duyên như ra đường xấc láo gặp phải dân anh chị xã hội đen thì nó chém cho một phát chết thì cũng còn may. Nó chém chết rồi nó lấy luôn thi hài của em cá, không phải để đem ước xác như ở Ba Đình đâu mà mơ. Nó đem về làm món các bóp chua để nhậu, còn vợ nó lấy phần còn lại làm lẩu xì sụp húp lúc đêm về thì tuyệt. Chưa hết bây giờ các thứ thuốc kích thích, thuốc lắc, ma túy đá chạy ê hề ở ngoài đường, giống như TV chạy hồi mới giải phóng ấy. Hàng ngon không chơi cũng uổng nên con cá nó mám, nó chơi, không chơi thì chỉ thiệt. Chơi phê rồi thì nó lăn ra chết ở xó xỉnh nào đó. Nên đâu có đổ thưa chính quyền được. Chính quyền nào mà lại phải quan tâm đến cái thứ nghiện ngập đó, mà lại là cá nghiện chứ. Chứa hết, cuối cùng thì nếu con cá không chơi ma túy thì cũng có thể hôm nào đi học về, nó trượt chân té xuống sông nhưng vì không biết bơi nên nó chết....đuối.

Đấy chuyện 2 con cá chết là chuyện rất nhỏ bé, giữa hàng tỷ con cá khác cũng làm đau đầu lãnh đạo lắm rồi. Giờ đây cứ nói lên chữ cá chết là các đầu lãnh Đỉnh Cao Chí Tuệ của ta lại nhức đầu bỏ ăn, chỉ bú bình. 

"Mẹ ! Từ vụ cá chết đến nay, tôi bị thiên hạ chửi hói hết cả đầu. Mà không phải hói bình thường đâu nha, mà hói đến mức không còn gì để nóii ". Fuc chửi ầm lên.và ra lệnh cho bọn Phạm Bình Minh, Ta Bích Loan phải sáng tác ra một vở kịch để yên lòng nhân dân và PR cho Đảng ta. 

Nhưng gặp ngay phải anh chàng MC Phan Anh, dù không phải dân Quảng Nam nhưng hay cãi, nhất là những gì mất uy tín của anh.

Vào cuộc em Tạ cò mồi dần, đưa mấy anh ốm nhom vì nghiện internet ra để nói chung chung. Hai bên em Tạ là hai đàn anh thơ có tiếng. Anh Hồng Thanh Quang, đại tá và là nhà thơ gà mái với giọng nói hai thì nghe éo éo rất phê, cùng với anh Nguyễn Mạnh Hà làm thành tổ tam công tố và bắt đầu tung chưởng vào bị cáo Phan An, ngồi cười ruồi để ra dáng éo phục. Nhưng càng về sau thì hai ông công tố rởm càng đuối lý, càng tung ra nhiều chưởng tào lao, sách vở. Thế là MC phang toáng lên tất cả. Chúa chết thì Trạng cũng lờ đờ chết theo.

Chuyện chẳng có gì cả để làm ầm ĩ, vì cũng là bọn nó đánh bọn nó, mỡ nó rán nó kêu oang oang để câu khách thôi. Nhưng khâm phục nhất là em HQT, làm thơ mà lại đóng kịch, diễn hay ra phết. Với giọng nói eo éo của bà già vẫn còn trinh, Hồng Thanh Quang ta tung hứng đểu giả ra phết. Lúc trầm, lúc bổng, lúc thăng lúc giáng, lúc nặng nề như xe đổ thùng ngã bật ngửa, lúc lại thanh thoát như giật nước bồn cầu.

Em Tạ thì vẫn giỏi như mọi khi. Chuyện em làm nhưng em khẽ ẩy sang cho đàn anh HTQ lãnh đủ, còn em thì diễn :"Em có biết gì đâu" hay như thật. Cũng phải thôi vì em là giòng giống ở VTV ra mà. Em nào ở trong đó ra thì bụng cũng to ra, không có bầu thì cũng một bụng dao bầu, chém đâu trúng đó.. .

Tóm lại kết luận một cách chắc chắn rằng, vụ MC Phan Anh là một vụ diễn để lăng xê tự sướng cho các quan anh. Và họ đã thành công. Chỉ có em gà mái Hồng Thanh Quang là vẫn chịu thiệt thòi nhiều nhất mỗi khi xuất hiện ra trước mặt trời. Kép nhất không thành, kép nhì cũng không xong. Chỉ tội nghiệp cho tờ báo lề phải Đại Đoàn Kết, hết khôn dồn đến dại mà lại đi mời tay ấm ớ này về làm TBT mới hãi chứ. Nên doanh thu cứ ngày càng xuống, cả đám đang chờ ra đê ở, hay chờ Nhà nước rót tiền. Tóm lại thì đây chỉ là một màn diễn giữa các đồng nghiệp với nhau, không hơn không kém.

Người lợi nhất qua vụ này chính là anh chàng đẹp trai Phan An, nhưng lời khuyên là chàng không nên ở trong VTV, dù có được mời. Ở trong đó mấy năm thì chàng cũng biến thành tinh, hoặc thành chàng phi công trẻ chuyên lái máy bay bà già. Càng ở lâu thì chàng lại càng phải lái máy bay bà già mỗi ngày một già hơn...

MTA

30/05/2016

Người đàn ông cô đơn và thành phố bị bao vây...


Trung tâm thành phố Sài Gòn buổi sáng chủ nhật đẹp trời. Những đoàn người hồ hởi qua lại ngắm nghía các quầy hàng. Khách du lịch du lịch nước ngoài dừng chân quay phim chụp hình. Cả dân Tây lẫn dân Ta đều ồn ào, vô tư chen nhau qua lại.



Người đàn ông cô đơn và thành phố bị bao vây...

Tôi đứng lặng một mình ở cái nơi mà mấy tuần trước dày đặc chân người biểu tình những giờ thì trống vắng ngẩn ngơ. Tôi có muốn nói thì cũng chẳng ai nghe. Rằng mới một hai tuần lễ trước , ở nơi đây đã có những cuộc xuống đường chưa từng có vì môi trường. Có rất nhiều các nhân sĩ, trí thức, nghệ sĩ, công chức và đặc biệt là các em sinh viên, học sinh...đã cùng nhau chen vai xuống đường và làm nên một cuộc biểu tình không thể nào quên.
Tôi còn nhớ những khuôn mặt trẻ trung lấm tấm mồ hôi, những nụ cười rụt rè thân thiện của các em với nhau. Tôi nhớ đến nhiều em, cả trai cả gái đã liên tục mời tôi những chai nước suối lạnh. Tôi còn nhớ các em đã nhiều lần bí mật cho tôi hay rằng, rằng họ nghe được CA nói là sẽ bắt tôi.
Tôi gặp rất nhiều nhân sĩ trí thức nổi tiếng, những người đã may mắn thoát khỏi sự phong tỏa, cầm giữ của các lực lượng CA, AN ở nhà để đến tham gia bằng được cuộc tuần hành ôn hòa. Rất nhiều người đã phải di tản từ đêm trước để đến nhà bạn bè, hay khách sạn để giờ này họ được góp mặt ở đây. Tôi không dám nhắc đến tên họ, những cái tên đó đã làm rạng danh cho buổi tuần hành, cũng như tỏ rõ khí phách của những sĩ phu khi nước nhà gặp phải thảm họa môi trường chưa từng có này
.
Có một người quen mà tôi không thể không nói đến với lòng ngưỡng mộ chân thành. Đó là luật sư Lê Công Định cũng đã có mặt trong đoàn biểu tình. Có lẽ anh đã phải vượt qua nhiều khó khăn lắm để đến được đây và cùng với mọi người chia sẻ nỗi thiệt thòi do nạn cá chết với đồng bào miền Trung ruột thịt. Với tấm khẩu hiệu in vội luôn đươc giơ cao lên, Định đã ung dung đi từ đầu tới cuối trong cuộc xuống đường, và anh em đã thể hiện cái khí phách của một con người đấu tranh dân chủ đã phải trải qua tù tội bất công. Chắc chắn Định sẽ phải vượt qua sự cấm đoán mà chính quyền dành cho người đã bị bắt, và vượt qua bao trò bẩn thỉu nhằm vào anh của chính quyền, cũng như những chuyện riêng tư đựng đứng và vu vạ cho anh. Với việc anh xuất hiện và tham gia nhiệt tình cùng mọi người hôm nay đã chứng tỏ anh đã giữ gìn phẩm cách của mình và không thèm để ý đến những tiếng kèn lạc điệu đó. Và khi người viết bài này nói với bà con :"Đây là Ls Lê Công Định. Chúng ta hãy vỗ tay chào mừng LS đã đến tham gia cùng chúng ta" thì mọi người ùa lại phấn khởi vỗ tay rần rần khiến chàng luật sư đẹp trai chỉ còn biết đỏ mặt cười trừ.

Rồi còn nhiều nghệ sĩ tên tuổi nữa tham gia khiến cho cuộc biểu tình như một cuộc caraval vui vẻ, những nụ cười tươi như hoa của các cô gái chụp hình tự sướng. Các chàng trai tự động đi lên đầu mở đường, và đi vòng ngoài để cho người lớn, phụ nữ và trẻ em đi trong cùng. Mọi người nhắc nhau đừng đi xuống lòng đường, đừng đi lên cỏ. Có vài thanh niên đem theo những khẩu hiệu chính trị rất dễ gây ngộ nhận nhưng họ đã bỏ ngay khẩu hiệu đó khi có vài người lớn tuổi nhắc nhở. Tôi còn thấy các bạn trẻ nhắc một bạn gái hãy bỏ khẩu trang che mặt đi. "Nếu bạn che mặt thì những người CA kia tưởng rằng chúng ta sợ đấy". Những người phụ nữ khác vui vẻ nói chuyện, mua bánh trái rồi vội vàng vừa ăn vừa đi theo cho kịp đoàn...

Nhưng rồi đột nhiên những người thực thi pháp luật bỗng đổi thái độ với những người biểu tình khi. Lực lượng CA mặc sắc phục đã áp sát chứ không đứng xa xa nữa. Những chiếc xe bán tải đọc loa ra rả chạy sát bên đoàn người, và thậm chí còn như muốn đâm thẳng vào họ. Các lưc lượng chìm nổi bỗng đông lên và áp sát những khuôn mặt dữ dằn chứ không còn như lúc sáng nữa. Đoàn người đi sát lại gần nhau như để che chở cho nhau. Cũng có một số người người biểu tình hiểu chuyện và họ lủi dần ra ngoài vòng vây, nhưng tôi không thấy người phụ nữ làm như thế cả. Đột nhiên ca khúc Dậy Mà Đi do một giọng nam rất hay vang lên đầy phấn, kéo theo những lồng ngực như bốc cháy cúa mọi người. Tiếng hát vang lên như ngọn lũ cuốn lũ đi, như cơn gió cuồng kéo theo các bão cuồng.
Dậy mà đi ! Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi.

Bao nhiều năm qua dân ta sống không nhà.

Bao nhiều năm qua dân ta chết xa nhà.
Dậy mà đi. Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi...
Đàn áp đã bất ngờ đến ngay sau đó. Có người bị bắt, bị quăng lên xe. Các em trẻ bị bắt và phải chịu những cái đánh liên tục, thẳng tay. Máu đã đổ và không ai muốn hòa bình cả.
Người viết bài đã không chứng kiến được những điều đó vì bi bắt đầu tiên. Chính vì thế mà hôm nay tôi trở về đây, để cố gắng một cách vô vọng là muốn truy tịm thấy lại những cái ngày chủ nhật đẹp trời. Mong ước được thấy những anh, những chị và những em của những ngày xuống đường sôi nổi đó. Và ước ao được tay trong tay với họ một lần nữa...
Tôi bỗng thấy cô đơn quá khi nhìn những dòng người nhỏ bé tíu tít qua lại vô tư. Tội thấy cả nỗi cô đơn như đang bao trùm rồi len lén luồn vào thân thể khiến tôi như chết lặng. Hỡi những con người muôn năm cũ của cái ngày 1/5 đang ở đâu. Các bạn có vui hay buồn vì cái ngày đáng nhớ đó không. Cuộc đời một con người khi nặng như đá tảng, khi nhẹ như lông hồng, lúc thăng lúc giáng, lúc Sắc Sắc lúc Không Không. Nhưng nếu ta biết làm cho nó có ý nghĩa thì hãy ngẩng đầu lên để làm những công việc cho cộng đồng như ta đã làm thì hẳn sẽ hạnh phúc lắm. Bởi hạnh phúc đó là phẩm giá, là lương tri của một Con Người Chân Chính q uân 
Nhưng không ai trả lời tôi ngoài ánh đèn rực rỡ chớp tắt đầy mê muội. Không có những con người mà tôi đã sát cánh để không quên đó thì giờ đây tôi như lạc lối, giữa triệu người tôi vẫn thấy cô đơn bao trùm.
Tôi đã trở thành Một người đàn ông cô đơn nữa sau Người Đàn Ông Cô Đơn Huỳnh Ngọc Chênh trong một bức hình nổi tiếng của Bùi Zdũ chụp. Chúng tôi cô đơn dù đứng hay ngồi giữa triệu người, và chỉ còn biết để mặc cho nỗi cô đơn gậm nhắm tâm hồn mình. Nỗi cô đơn của những kẻ sinh lầm thế kỷ, lầm tổ quốc và lầm cả yêu thương.
Tôi vẫn đứng đúng ở những nơi mà đoàn biểu tình của người dân Sài Gòn đã đứng, và nhìn lên. Thành phố vẫn lộng lẫy ánh đèn chớp tắt nhưng tôi biết rằng nó sắp chết. Nó sẽ chết đi khi các giá trị nhân bản của nó bị những kẻ cai quản gặm nhấm hết. Nó đã bị trói chặt hết phương cứu chữa và giờ thì chỉ biết đọc những câu kinh cuối cùng. Như nhạc sĩ Tuấn Khanh đã viết : "Thành phố đang bị bao vậy". Phải, thành phố đang bị bao vây không phải bởi những tên hải tặc che một mắt, cũng không phải bởi những tên cướp Vi King hung tợn. Vòng vây của nó là sự liên hoàn giữa đồ ăn chứa chất độc và sự mất vệ sinh cho người nghèo. Cá độc, muối độc và vừa nghỉ ngơi nơi  sau chuyến để làm biếng Mà nó bị bao vây, để xẻo thịt bởi những người lãnh đạo nó nhưng xấu xa ác độc với nó.
Tôi quay đi nhưng vẫn có bước theo dấu chân của đoàn người biểu tình tuần trước. Trĩu nặng nỗi cô đơn, thất vọng và lòng tiếc nuối mãi không thôi, tôi bước thật nhanh để che giấu những giọt nước mắt đã đổ xuống để khóc cho cái thành phố bị bao vây này...
MTA

29/05/2016

Nước Mỹ luôn là chỗ dựa vững chắc nhất…



Nhân bàn về chuyến đi thăm Việt Nam của Tổng Thống Mỹ Obama thì có một số quan niệm rất được nhiều người nói đến, rằng ta phải tự cứu chính ta chứ đừng trông chờ vào bên ngoài. Rằng không ai giúp được ta nếu ta không tự giúp mình. Và rằng tổng thống Mỹ chỉ giúp cái cần câu chứ không giúp ta câu con cá. Ngoài ra nước Mỹ chỉ cần biết quyền lợi của họ là trên hết…



Những luận điệu trên thì không sai, xét trên những yếu tố tích cực của vấn đề. Vì đó là những điều thuộc về nguyên tắc của đấu tranh dân chủ rồi. Không có cuộc đấu tranh dân chủ nào lại thành công khi người đấu tranh cứ ngửa cổ chờ trông bên ngoài cả. Phải tự cứu mình trước khi Trời cứu . Đó là điều không có gì phải bàn cả.

Nhưng những điều trên thì cũng chỉ đúng về mặt lý thuyết thôi chứ không phải là đúng về tất cả. 

Đấu tranh dân chủ, đòi hỏi các quyền dân sinh là một cuộc đấu tranh lâu dài với những thế lực độc tài toàn trị. Đó là một cuộc đấu tranh mà những người đấu tranh luôn ở điểm yếu, thua thiệt so với nhà cầm quyền. Dù không có chính nghĩa nhưng nhà cầm quyền luôn có sức mạnh hiển nhiên là CA, QĐ, AN…cùng những sức mạnh khác bảo vệ, trong khi người đấu tranh dân chủ, dù có chính nghĩa nhưng lại không có những sức mạnh nói trên, nên họ luôn bị đè bẹp, bắt bớ bất cứ lúc nào.

Nên những người đấu tranh dân chủ luôn phải tìm kiếm bất cứ điều gì, bất cứ ai có thể giúp họ trong cuộc đấu tranh không cân sức này. Và nước Mỹ đã là sự tin tưởng tuyệt đối mà họ đã giao phó niềm tin, giống như những bông hoa hướng dương luôn quay mặt về phía Mặt Trời...

Nước Mỹ là một quốc gia hùng mạnh với nền dân chủ bậc nhất thế giới và quan trọng hơn cả là nó luôn đồng cảm với mọi người đấu tranh dân chủ, chống áp bức ở bất cứ quốc gia nào. Nước Mỹ đã trở nên vĩ đại bởi chính nó đã gánh vác một phần khó khăn của thế giới này, và sẽ còn vĩ đại hơn nữa bởi nó luôn bênh các quốc gia nhỏ bị quốc gia lớn bắt nạt, luôn bênh vực cho những con người bị bạo quyền bất công.

Đấu tranh dân chủ ở Việt Nam thì phải trông dựa vào nước Mỹ là một điều đương nhiên. Bởi ở quốc gia đó từ người dân thường cho đến tổng thống đều có chung những giá trị tự do dân chủ cùng với chúng ta. Bởi ở đó có những phẩm chất dân chủ tốt nhất để học hỏi, ở đó có sức mạnh kinh tế và quân sự tốt nhất đủ khiến cho không ai dám coi thường nước Mỹ, cũng như đủ để khắc chế được sự đàn áp chống loài người của bất cứ ai nếu cần. Bởi ở đó có một cộng đồng người Việt Nam đông đảo luôn trông về tổ quốc, và luôn hòa nhịp đấu tranh với đồng bào quốc nội. Và không thể không nói rằng, nước Mỹ cũng có một phần lịch sử của Việt Nam, nước Mỹ cũng có một phần trách nhiệm với dân tộc Việt Nam và nước Mỹ luôn ủng hộ Việt Nam trên con đường hội nhập vào thế giới văn minh không cộng sản.

Vậy thì không trông vào nước Mỹ thì trông vào ai đây ? Dĩ nhiên là chúng ta không trông chờ Mỹ đem quân đội sang, cũng như không phải cứ ai bị bắt thì kêu gào tới nước Mỹ. Chúng ta chỉ cần hiểu rằng, nước Mỹ với những phẩm chất đã nêu là một chỗ dựa tốt nhất. Có thể có lúc thăng, có lúc giáng nhưng nước Mỹ ở bên cạnh ta, sau lưng ta luôn là một chỗ dựa vững chắc nhất cho mọi phong trào đấu tranh hòa bình bất bạo động.

Chẳng có gì phải xấu hổ cả, nếu không muốn nói thật may mắn khi chúng ta coi nước Mỹ như một người bạn lớn chân thành, và họ cũng coi chúng ta như vậy. Đừng đem những điều tào lao rằng nước Mỹ chỉ biết quyền lợi riêng của họ ra mà phán lung tung. Hãy nhìn vào lịch sử thế giới, nhìn vào các cuộc chiến tranh Thế Giới lần thứ 1,2 rồi gần đây như Cô oét, Nam Tư, Iraq…để thấy rằng, nếu cần thiết thì người Mỹ cũng biết hy sinh, cũng chấp nhận hy sinh để đem những giá trị dân chủ lan tỏa ra khắp thế giới, và cho tất cả các dân tộc trên thế giới này được chung sống hòa bình, hạnh phúc…

MTA

“Đánh tư sản” ở miền Nam sau 1975

Sài Gòn trước 1975
Sài Gòn trước 1975

I. ĐÁNH TƯ SẢN
ĐÁNH TƯ SẢN cũng là một sự kiện chấn động lịch sử Việt Nam ngang hàng sự kiện THUYỀN NHÂN VIỆT NAM và chỉ xảy ra sau ngày 30 tháng Tư năm 1975.
Sự kiện ĐÁNH TƯ SẢN do Hà Nội thực hiện đối với người dân miền Nam Việt Nam theo Quyết Định mang số 111/CP vào ngày tháng 4 năm 1977 do Phạm Hùng ký chỉ đặc biệt nhằm vào việc tịch thu nhà cửa đất đai của nhân dân miền Nam 
Các đợt ĐÁNH TƯ SẢN đối với người dân miền Nam được Hà Nội cho ký số X1, X2 và X3.
Đợt  X1 được bắt đầu vào sáng ngày 11 tháng Chín năm 1975 xảy ra khắp 17 tỉnh thành miền Nam và thành phố Sài Gòn. Đợt này chủ yếu nhắm vào nhà của các cư dân thành thị, tịch thu nhà và cưỡng bức toàn bộ những nạn nhân phải đi về vùng Kinh Tế Mới sống. Đợt X1 này tập trung vào những người dân Việt gốc Hoa vốn đã di dân vào miền Nam Việt Nam từ cuối triều Minh, đầu triều nhà Thanh, sanh sống thanh công tại miền Nam ngót nghét hơn 200 năm.
Đợt X2 được Hà Nội tiến hành từ tháng Ba năm 1978 và được kéo dài cho đến sau Đổi Mới, tức là khoảng năm 1990 thì mới chấm dứt. Đợt này chủ yếu nhắm vào tư thuơng, tiểu tư sản, các thành phần sản xuất nhỏ vốn rất đa dạng và phồn thịnh trong nền kinh tế tự do do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa khuyến khích hậu thuẫn cho quốc dân từ bấy lâu.
Nền công nghiệp nhẹ, sản xuất đồ sài gia dụng trong nhà của Việt Nam đã hoàn toàn chính thức bị phá hũy. Người dân Việt Nam sẽ không còn thấy các sản phẫm tự hào của dân tộc như nồi nhôm hiệu Ba Cây Dừa , xà-bông (savon) hiệu cô Ba, xe hơi hiệu La Đalat, hiệu đèn trang trí Nguyễn Văn Mạnh, …etc…. Không những thế, các nhà máy nhỏ sản xuất nhu yếu phẫm như đường, bột giặt, giấy, …etc cũng bị tê liệt vì chủ nhân bị quốc hữu hóa.
Riêng tại Sài Gòn, thì báo Tuổi Trẻ đã phải thừa nhận là đã có trên 10000 tiệm bán bị đóng chỉ qua một đêm, khiến một viên thuốc trụ sinh cũng không có mà mua, mà dùng. Nhà sách Khai Trí lừng lẫy, biểu tượng của cả Sài Gòn cũng bị báo đài tại Sài Gòn lúc bấy giờ rêu rao là tư bản và cần phải tịch thu. Nhà sách Khai Trí vốn đã từ tâm giúp đỡ biết bao văn nghệ sĩ của miền Nam, âm thầm thực hiện đường lối khai dân trí của cụ Phan Chu Trinh cho dân tộc
Riêng về chỉ thị 43 của Bộ Chính Trị  vào tháng Năm năm 1978 đã quốc hữu hóa toàn bộ đát đai của nông dân miền Nam vào tay nhà nước thông qua hình thức “Tập Đoàn Sản Xuất” dẫn đến nạn đói năm 1979 ngay liền sau đó vì lúa gạo và các sản phẩm nông nghiệp bị sút giảm toàn diện tại miền Nam.
Tình trạng ở nông thôn miền Nam càng kinh khiếp và dữ dội hơn ở Sài Gòn dù không ồn ào bằng.
Tổng số lúa mà nông dân miền Nam bị chở ra ngoài Bắc không thông qua quy chế thu mua được loan truyền là khoảng 4 triệu tấn gạo vào đầu năm 1978 trên đài phát thanh Hà Nội khi ca ngợi thành tích ĐÁNH TƯ SẢN của các đảng bộ địa phương miền Nam. Đương nhiên, con số chính thức được các nông dân kêu ca là lớn hơn nhiều.
Sang đến năm 1979, Võ Văn Kiệt đã phải loan báo thu mua lúa từ nông dân với giá cao gấp cả ngàn lần giá quy định của Nhà Nước (!) để cứu vãn tình thế bất mãn không còn dằn được nữa từ nông dân miền Nam trước những đợt thu lúa từ năm 1977 trở đi.
Song song với chiến dịch X2 là chiến dịch X3 đặc biệt tập trung tại Sài Gòn. Sau chiến dịch X3, hàng ngàn gia đình cán bộ miền Bắc đã vào Sài gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu. Theo thừa nhận ngắn ngủi từ báo SGGP và báo Công An khi bàn đến vấn đề trả lại nhà cho những “đối tượng” bị đánh tư sản oan ức vào tháng 9 năm 1989, ước tính lên đến khoảng 150 ngàn người thuộc gia đình cán bộ gốc miền Bắc vào Sài Gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu.
Đỗ Mười, sau này là Tổng Bí Thư Đảng, lúc bấy giờ thay thế ông Nguyễn Văn Linh làm trưởng ban cải tạo TW Vào ngày 16 tháng Hai năm 1976 là người chỉ huy trực tiếp đợt thực hiện này.
Trong chiến dịch này, số lượng người Sài Gòn phải bị mất hết tài sản và bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI là khoảng SÁU TRĂM NGÀN NGƯỜI, tạo ra một sự hoảng sợ hoang man chưa từng có trong lịch sử phát triển Sài Gòn qua các triều đại. Cuối đợt X3 , ghi nhận của Hà Nội là có khoảng 950 ngàn người Sài Gòn bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI, không hoàn thành chỉ tiêu đề ra là một triệu hai người!
Sức mạnh kinh tế Sài Gòn tự nhiên bị phá hoại đi đến kiết quệ hoàn toàn sau chiến dịch X3 do Đổ Mười trực tiếp chỉ huy. Hơn 14 NGÀN cơ sở tiểu thủ công nghiệp tại Sài Gòn rất cần cho nền kinh tế quốc dân, với khoảng 270 ngàn nhân công hoàn toàn bị trắng tay, đóng cửa với tổng số thiệt hại tài sản trước mắt lên đế gần chín đến hai mươi mốt tỷ Mỹ kim và tiến trình phát triển công nghệ của đất nước trong tự cường hoàn toàn KHÔNG CÒN HY VỌNG để phục hồi.
Riêng về tổng số vàng, nữ trang tịch tư từ tư bản ở miền Nam được các báo đài của Đảng thừa nhận lên đến 4000 lượng vàng- nhưng đây chỉ là con số tượng trưng tính riêng ở Sài Gòn từ tháng Năm năm 1977 qua tháng Hai năm 1978 mà thôi. Cả thảy trên dưới gần 35 ngàn lượng vàng, tính luôn cả nữ trang và kim cương thu trong những đợt ĐÁNH TƯ SẢN ở miền Nam.
Xin được ghi chú thêm là chỉ nội vụ Hà Nội tiến hành cho phép người Việt gốc Hoa ra đi bán chính thức nếu đóng khoảng 120 lượng vàng đã góp vào gần 10 ngàn lượng vàng tổng cộng.
Trung bình , mổi người dân miền Nam nằm trong đối tượng bị ĐÁNH TƯ SẢN mất trắng khoảng 9 lượng vàng không tính đất đai, nhà cửa, phụ tùng thiết bị , đồ cổ, và các tài sản khác. Trữ lượng vàng của toàn bộ người dân miền Nam có thể lên đến 250 ngàn lượng vàng tính đến năm 1975 nhưng đồng bào khôn khéo giấu đi và phản kháng cũng như đem theo khi di tản.
II. KINH TẾ MỚI:
Tất cả những ai tại Sài Gòn bị Sản Hà Nội tịch thu nhà , tài sản điều phải đi về vùng KINH TẾ MỚI, là những nơi mà cơ sở hạ tầng cho sinh hoạt chưa được xây dựng, trong đó có cả điện nước, trường học và bệnh xá. HƠN SÁU TRĂM NGÀN nạn nhân bị cưỡng bức qua đêm phải rời Sài Gòn để về những vùng KINH TẾ MỚI và bỏ lại hết toàn bộ tài sản của mình từ nhà ở, của cải, đồ đạc cho Đảng quản lý.
Những người bị cướp bóc, tịch thu nhà và sau đó dồn lên vùng kinh tế mới
Những người bị tịch thu nhà và sau đó dồn lên vùng kinh tế mới
Chỉ tiêu đề ra là phải đưa cưỡng bức khoảng gần một triệu người Sài Gòn ra các Vùng KINH TẾ MỚI và buộc họ phải bỏ hết tài sản nhà cửa lại cho Hà Nội quản lý. Tổng kết từ các báo cáo thành tích cải tạo XHCN của Đảng, số người bị cưỡng bức đi Kinh Tế Mới từ Sài Gòn qua mười năm Quá Độ- ĐÁNH TƯ SẢN như sau:
THỜI KỲ
CHỈ TIÊU
KẾT QUẢ THỰC HIỆN
GHI CHÚ
1976- 1979
4 triệu người
1,5 triệu người
95% là từ Sài Gòn
1979-1984
1 triệu người
1,3 triệu người
50% là từ Sài Gòn
Khi đến vùng KINH TẾ MỚI để sống tham gia các tập đoàn sản xuất hay còn gọi tắt là Hợp Tác Xã, “thành quả lao động” của các nạn nhân này được phân phối chia ra như sau:
– 30% trả thuế
– 25% góp cho chính phủ theo giá thu mua của nhà nước;
– 15% trả lương cho cán bộ quản lý ;
– 30% còn lại chia cho các thành viên tính theo số điểm thuế lao động
Như vậy là sản phẩm nông nghiệp từ các nông trường vùng Kinh tế Mới đã bị Đảng tịch thu hết 70 % và chỉ còn 30% là chia lại cho các thành viên, vốn là các nạn nhân bị tịch thu nhà cửa sống trong vùng Kinh Tế Mới.
Thế là cả triệu người dân Sài Gòn đột nhiên lâm vào cảnh đói kém trầm trọng như là đòn trả thù hữu hiệu của chế độ Hà Nội đối với những bị liệt vào thành phần không phải “Cách Mạng”, ngụy quân ngụy quyền và tiểu tư sản.
Ước tính có khoảng 300 ngàn trẻ em bị thất học vì sống ở các vùng Kinh Tế Mới này. Nhân dân miền Nam- cả triệu người đang sống sung túc bổng lao vào chịu đói kém khổ sở chưa từng có. Nạn đói kém lan tràn khắp mọi nơi, mọi nhà trước thảm cảnh.
Hàng vạn người dân Sài Gòn đã phải bỏ trốn khỏi các vùng Kinh Tế Mới, đi ăn xin trên đường Về Sài Gòn, đói rách khổ sở. Đây là thời kỳ khốn khổ bi đát nhất trong lịch sử phát triển Sài Gòn.
III. Quyết Định 111/CP của Hà Nội về việc “Đánh tư sản ” ở miền Nam Việt Nam
Quyết định 111/CP của Hà Nội là một tài liệu chứng quan trọng. Quyết định này là nguồn gốc của mọi khổ đau, nghèo khó của người dân miền Nam Việt Nam sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 và là lý do Việt Nam bị tụt hậu về mọi mặt, đứng hàng thứ ba nghèo nhất thế giới theo tuyên bố của Liên Hiệp Quốc vào năm 1985.
Trích : 
IV. ĐỐI VỚI NHÀ, ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC VÀ CÁ NHÂN THUỘC BỘ MÁY CAI TRỊ CỦA NGUỴ QUÂN NGUỴ QUYỀN VÀ ĐẢNG PHÁI PHẢN ĐỘNG
1. Mọi loại nhà cửa, đất đai trước ngày Giải phóng do chính quyền Mỹ nguỵ quản lý hoặc dành cho những tổ chức hay cá nhân, thuộc nguỵ quân nguỵ quyền và các tổ chức đảng phái phản động sử dụng, nay đều là tài sản công cộng, do Nhà nước trực tiếp quản lý.
2. Nhà cửa, đất đai của những người sau đây đều do Nhà nước trực tiếp quản lý:
– Sĩ quan nguỵ quân cấp từ thiếu tá trở lên.

– Sĩ quan cảnh sát từ cấp trung uý trở lên.
– Cán bộ thuộc bộ máy cai trị của nguỵ quyền đã giữ chức vụ, từ Chủ sự phòng cơ quan Trung ương, Ty phó, Quận phó trở lên.
– Các phần tử ác ôn, mật vụ, tình báo, chiêu hồi cố tình phản cách mạng.
Điều IV của QĐ 111/CP đã cho thấy rõ gia đình thân nhân của quân lực Việt Nam Cộng Hòa phải chịu mất nhà mất cửa rất thê thảm. Mọi quy chụp là phản động hay Ngụy quyền thì coi như là bị tịch thu nhà cửa.
Dòng chữ cuối cùng của khoản 2 điều IV của QĐ 111/CP có ghi rõ là nhà cửa đất đai của các thành phần sau đây bị tịch thu: “Các phần tử ác ôn, mật vụ, tình báo, chiêu hồi cố tình phản cách mạng.” Bởi không có định nghĩa rõ ràng thế nào là thành phần ác ôn nên các viên chức cán bộ Cộng Sản tha hồ kết tội thuờng dân vô tôi vạ là thành phần ác ôn của “Ngụy quyền” để tư lợi cướp bóc nhà cửa cho riêng mình, không cần tòa án nào xét xử cả. Ai ai cũng có thể là điệp viên CIA, hay là có lý lịch ba đời liên quan đến Ngụy quân, và điều có tư tưởng phản động và cần phải tịch thu nhà cửa dựa trên điều khoản này của Q Đ 111/CP.
Không khí hoảng sợ , đau thuơng oán hận lan tràn khắp cả miền Nam.
IV. Hậu quả ĐÁNH TƯ SẢN của Hà Nội:
Theo các chuyên gia của Liên Hiệp Quốc về kinh tế, Việt Nam tụt hậu hơn 50 năm về kinh tế vì các chính sách đánh tư sản này của Cộng Sản Hà Nội lên đầu người dân miền Nam. Việt Nam là quốc gia nghèo đứng hàng thứ ba trên thế giới vào năm 1985.
Cho đến giờ phút này, người dân Việt Nam vẫn chưa thực sự có quyền TƯ HỮU mà chỉ có quyền SỬ DỤNG, nghĩa là thảm họa bị ĐÁNH TƯ SẢN trong quá khứ vẫn treo lơ lửng trên đầu người dân Việt Nam bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra chiếu theo luật pháp hiện hành của Hà Nội.
Kinh tế của Việt Nam mãi đến năm 1997 mới thực sự khắc phục được một phần hâu quả của 10 năm Quá Độ, ĐÁNH TƯ SẢN do Hà Nội tiến hành từ năm 1976 đến năm 1987.
Từ năm 1987 đến năm 1997, Hoa Kỳ đã nhắm mắt làm ngơ cho những người Việt di tản hay Vượt Biên định cư tại Mỹ gởi tiền hàng ồ ạt về cứu đói thân nhân mình và vực dậy sự sinh động về kinh tế vốn có ngày nào của miền Nam.Tổng số ngoại tệ gởi về lên đến 8 đến 15 tỷ Mỹ kim mỗi năm trong suốt 10 năm đó.
Sang đến năm 1989, báo SGGP từ Sài Gòn chịu 90 % ngân sách của cả nước và bắt đầu tiến hành trả lại nhà cho một số nạn nhân bao năm trời khổ ải, cũng như bắt đầu bàn tới vấn đề cho phép các sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa được bán nhà vốn hầu hết đã bị tịch thu nếu ra đi theo chương trình HO-Special Release Reeducation Center Detainee Resettlement Program (Chương trình tái định cư phóng thích đặc biệt tù nhân trung tâm cải tạo)
Chỉ số nghèo đói của Việt Nam đứng hàng thứ ba trên thế giới và chỉ mới có những tiến bộ cải thiện khi World Bank và USAID tăng tốc trợ giúp.
Mọi tài liệu, hình ảnh ca ngợi ĐÁNH TƯ SẢN từ các báo chí đài phát thanh của Đảng cũng bị dẹp dần đi.
Hà Nội tới ngày nay vẫn chưa chính thức xin lỗi hai mươi mốt triệu người dân miền Nam về hành động này.
Tú Hoa
(nguồn : nghiencuulichsu.com)

Mayrena, ông vua của xứ sở SéDang trên cao nguyên đất Việt


Vua bịp Pháp xưng vương trên cao nguyên đất Việt



Hoàng Đế Marie Đệ Nhất của xứ Mọi Sédang.

Hoàng Đế Marie Đệ Nhất của xứ Mọi Sédang.

Trong khoảng thời gian từ 1888 đến 1890, khi nước ta đang xảy ra các biến cố như vua Hàm Nghi bị Pháp bắt lưu đày sang Algeria thuộc Pháp, Đồng Khánh băng hà và Thành Thái lên thay, một người Pháp nhờ thuyết phục được các bộ lạc dân thiểu số sống rải rác ở vùng cao nguyên, tự xưng làm hoàng đế, lấy vương hiệu là Marie Đệ Nhất. Câu chuyện bấy giờ gây rúng động không những đối với chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam mà còn gây náo động đến cả dư luận bên Âu Châu.
Con người kỳ lạ này tên thật là David Auguste-Jean-Baptiste-Marie-Charles. Ra đời vào ngày 31 Tháng Giêng năm 1842 tại Toulon, Var, thuộc vùng Provence-Alpes-Côte d’Azur nước Pháp. Charles là con trai thứ trong gia đình có bốn người con của ông Léon-Jacques-Albert-David, một sĩ quan hải quân và bà Marie-Anne-Marguerite Baptiste Thunot, con gái một đại tá chỉ huy lực lượng phòng vệ quốc gia. Người anh đầu tên Romaric mất năm 1915, hai người em trai kế là Henri và Raymond đều mất lúc còn trẻ. Bốn anh em từ nhỏ đã theo cha lên Paris sinh sống và được giáo dục tại đây.
Năm 1859, Charles gia nhập quân đội, ngành kỵ binh, bốn năm sau làm đội trưởng một đội thiết giáp ở Versailles. Thấy đời sống quân ngũ ở đây không thích hợp với bản tính phiêu lưu của mình, Charles ghi danh vào đoàn kỵ binh Nam Kỳ mới được Đô Đốc Bonnard thành lập. Đại đội này gồm lính kỵ binh Pháp đang đóng trên các thuộc địa. Trong thời gian ở Nam Kỳ, Charles từng tham dự một vài cuộc hành quân rồi trở về Pháp vào năm 1868 và được giải ngũ. Năm sau tại Toulon, ông kết hôn với cô Marie Francisca Avron, con gái của một cựu đại tá. Chiến tranh Pháp Đức bùng nổ, Charles gia nhập một tiểu đoàn lính cơ động ở Var. Nhờ quá trình binh nghiệp trước đây, ông được thăng làm đại úy chỉ huy một trung đoàn cơ động, rồi về bộ tham mưu quân đoàn. Ông được huy chương Bắc Đẩu Bội Tinh là huy chương cao nhất của Pháp, nhờ chỉ huy một trận đánh ở cầu Conlie vào Tháng Hai, 1871, mà phía ông chỉ có ba lính bị thương. Hết chiến tranh, mặc dù rất muốn lưu lại trong quân đội nhưng ông vẫn bị buộc phải giải ngũ. Không chức tước, không khả năng chuyên môn, Charles không còn chi ngoài cái mã cao ráo, đẹp trai. Cuộc chiến kết thúc cũng chấm dứt luôn cuộc sống phẩm giá và lương thiện. Charles David trở thành một con người khác.
Cuộc đời mới
Sau vài lần vật lộn mưu sinh, năm 1874, ông mở một ngân hàng nhỏ nhưng được một thời gian phải tuyên bố phá sản vì bị kiện tội lừa bịp. Cuối cùng, mặc dù được miễn tố nhưng ông vẫn tìm cách chuồn ra nước ngoài cho chắc ăn. Vào cùng năm, Charles đáp tàu thủy trực chỉ Java, một đảo lớn của Indonesia. Trên tàu, ông gây được niềm tin của một thanh niên người Pháp đang trên đường sang Java tìm gia đình. Ông tả oán rằng ông bị mất sạch hết tiền bạc đem theo. Mủi lòng, khi đến nơi vào Tháng Chín 1883, người thanh niên này dẫn ông đến gặp cha, một công chức hỏa xa ở Probolingo. Tại đây ông được cho lưu trú và mọi chi phí đều do những người đồng hương tốt bụng này đài thọ. Hai tháng sau, chính quyền Java trục xuất Charles David vì có nhiều đụng chạm với cư dân địa phương và bị họ khiếu nại. Ông được bố thí cho một vé tàu thủy hạng ba để trở về cố quốc. Thế là một lần nữa ông lại lang thang trên thành phố Paris.
Vào thời gian này, Âu Châu đang trong giai đoạn cách mạng kỹ nghệ, cần tìm kiếm cao su để khai thác. Đi đâu, gặp ai, Charles cũng khoe mình đã từng trông thấy những cánh rừng có cây cao su. Cuối cùng ông được Bộ Trưởng Bộ Công Cộng Pháp ủy thác cho việc nghiên cứu khoa học tại vương quốc Hồi Atchem trên đảo Sumatra, hòn đảo lớn nhất của Indonesia. Nam Tước Sellière cấp cho ông ngân khoản 2,000 đồng franc. Từ Toulon, ông lên đường cùng với em trai là Henry và ông Vésine-Larue trên một chiếc tàu vận tải. Nửa chừng, Larue tách riêng khỏi đoàn sau khi nghe một số người vạch trần bản chất không tốt của Charles. Lúc tàu dừng ở bến Sài Gòn vào ngày 23 Tháng Năm 1885, hai anh em cũng xuống bến luôn. Từ đây Charles David tự xưng mình là Nam Tước David de Mayréna.
Nam Tước de Mayréna
Vừa xài hết số tiền, Mayréna nghe tin Hội Đồng Thuộc Địa Đông Dương loan báo cấp thưởng nhiều ngàn franc cho kiều dân nào có ý định khai thác loại cây có mủ cao su. Mayréna khai đã từng thử dùng dao rạch lên thân cây và trông thấy thứ mủ này chảy ra tại vùng đất của người Mọi ở Bà Rịa. Thế là ông được giao cho việc hướng dẫn một toán khảo sát gồm 15 tay súng đi đến đó bằng tàu sà lúp, để kiểm tra lại. Dĩ nhiên sau chuyến đi, phái đoàn trở về tay không, vì thực sự có bao giờ Mayréna đã đến nơi này đâu mà tìm cho thấy những cây này. Mayréna mua một mảnh đất ở Thuận Biên, Bà Rịa, đặt tên là đồn điền Sainte-Marguerite. Mayréna gửi thư cho Hội Đồng Thuộc Địa khoe đã gieo trồng được 2,000 hột giống cây cao su và đang tiếp tục tìm kiếm thêm ở vùng đất Mọi, đồng thời phản bác những lời cho là đồn đại nói xấu về ông. Trong khi đó ở Pháp, Bộ Trưởng Bộ Công Cộng ký giấy giải tán đoàn thám hiểm ở Atchem, vì chính quyền Sumatra xác nhận ông Mayréna chưa hề đi đến đây. Tới lúc này người em trai là Henry đã tỏ ra quá chán ngán cái xứ Nam Kỳ nên một mình lên tàu trở về Pháp.
Tháng Năm 1887, tỉnh Bà Rịa gửi giấy thông báo cho lệnh lục soát nhà của Mayréna vì nghi ngờ ông buôn lậu vũ khí. Tại đây toán thanh tra gặp một phụ nữ bản xứ tên Lê Thị Bền, trước đây làm nghề bán hột vịt lộn ở Chợ Cũ, Sài Gòn, đang sống trong căn nhà. Mayréna đi vắng chỉ để lại giấy, dặn bà vợ Việt này phải tuân theo lời của các thanh tra. Kết quả khám xét họ chỉ tịch thu được 12 cây súng và một số đạn. Biên bản ghi, có thể đây là những vũ khí dùng cho cuộc khảo sát trước đây.
Tháng Giêng 1888, Mayréna lại gửi thư cho tân Toàn Quyền Constans lá đơn xin đi khảo sát tại vùng người Mọi sống độc lập ở phía Bắc tỉnh Bình Định, nằm giữa An Nam (tên gọi miền Trung Việt Nam dưới thời nước ta bị Pháp chiếm làm thuộc địa) và sông Mê Kông, khoe rằng đã từng sống hai năm ở trong rừng với người Malaysia. Đơn này nhờ được ông phó toàn quyền chuyển đi nên chấp thuận. Sự việc sở dĩ dễ dàng vì ai ở Nam Kỳ lúc bấy giờ cũng muốn tống khứ ông đi đâu đó cho khuất mắt. Ông được cấp mấy trăm đồng franc và 15 lính mã tà. Ngoài ra cùng đi còn có một kiều dân Pháp tên Alphonse Mercurol, hai phụ nữ Việt (có thể là vợ lẻ của hai ông Tây), cùng bốn nhà buôn người Hoa. Mercurol cũng từng đi lính và đã được giải ngũ, đương sự là một người hung bạo, không việc gì lại không dám làm. Lần này đi theo Mayréna vì chưa xoay xở được cách sinh nhai nào khác. Tháng Ba 1888, đoàn người đáp chiếc Hải Phòng đi ra hướng Bắc. Vận may cho Mayréna, trên tàu có sự hiện diện của ông Toàn Quyền Constans và ông bí thư Klobukowski. Tàu dừng ở vịnh Quy Nhơn vào ngày 16 Tháng Ba. Trước khi xuống tàu, Mayréna được ông Klobukowski trao cho bức thư gửi gấm và giới thiệu. Mayréna biết sẽ làm gì với nó sau này, mặc dù đây chỉ là lá thư tầm thường mà bất kỳ công chức nào cũng có thể tiến cử cho bất kỳ ai để họ đi mạo hiểm vào các rừng già của vùng Mọi vào năm 1888. Xứ Mọi ở dãy Trường Sơn vẫn còn là vùng đất bí ẩn (terra incognita), chỉ mới được các giáo sĩ Pháp khám phá vào năm 1849 và lập nên các vùng đất của người theo đạo Thiên Chúa. Ông E Navelle, quản trị vùng bản địa, đã từng đi xuyên qua vùng Mọi này vào năm 1884 và có viết lại một bài ký sự. Hai năm sau, Trung Úy Metz cũng đi lại theo sơ đồ của ông Navelle. Từ đó trở đi, ngoài các nhà truyền giáo, không người Âu nào khác thám hiểm vào vùng Mọi.
Mayréna được ông Crochet, nhân viên chuyển vận đường biển đón tiếp niềm nở, kể cả ông Charles Lemire, Công Sứ tỉnh Bình Định, người bị tài nói phét của Mayréna đánh lừa. Cũng có thể do ông Lemire thấy được thư giới thiệu của ông Klobukowski nên mới nhiệt tình giúp đỡ cho cuộc thám sát của Mayréna. Với bộ vó cao ráo (1m82), bộ râu bạch kim rất đẹp, hai vai rộng và tài bẻm mép, cùng với mớ thư giới thiệu, đến đâu Mayréna cũng gặp mọi sự dễ dàng. Ngoài Mercurol, Mayréna còn tuyển được ông Paoli và ban cho chức hỏa đầu vụ. Ông này bán hết sản nghiệp gồm một tiệm ăn ở Qui Nhơn để đi theo. Mayréna cũng chiếm được cảm tình của Đức Ông Van Camelbeke khi đến thăm giáo xứ của ngài ở Long Sông và được ngài viết cho một thư giới thiệu đến các cha thuộc Hội Truyền Giáo Người Man Di (Mission des Sauvages). Vũ khí Mayréna có gồm 18 súng trường, 3 cạc bin, 4 súng lục và 2,500 viên đạn. Ngoài ra ông còn xin thêm được một thùng thuốc súng cũ thấy ở nhà một nhân viên quan thuế tại Qui Nhơn.
Ngày 21 Tháng Tư, 1888, đoàn thám hiểm khởi sự lên đường. “Nam Tước de Mayréna” mang súng colt ngồi trên con ngựa Ả Rập to lớn, theo sau là đoàn ngựa của toán kỵ binh gốc Phi Châu, rồi đến Mercurol, Paoli, hai phụ nữ Việt, bốn người Hoa, một thông dịch viên tên Phạm Văn San thuộc Sở Mật Thám Pháp, 18 lính mã tà từ Sài Gòn và 80 người phu khiêng vác hành lý. Mayréna còn được chính phủ thuộc địa cấp bốn trăm đồng franc. Ông Lemire, công sứ Qui Nhơn gửi Mayréna một lá thư cho biết ông vừa viết cho quan tổng đốc thuộc triều đình Huế để giới thiệu về công tác thám hiểm của ông Mayréna, yêu cầu quan tổng đốc ra lệnh cho quan phủ An Nhơn và quan kinh lý cai quản các vùng lãnh thổ khai thác thuộc địa đang trú tại An Khê, giúp ông Mayréna được mọi sự dễ dàng. Số 80 cu li đều do ông Lemire đích thân trưng tập. Đoàn người gặp rắc rối đầu tiên khi đi đến An Khê vào ngày 26 Tháng Tư. Tại đây một thiếu tá người Pháp chỉ huy quân đội, giữ an ninh tỉnh Bình Định không cho phép ông hỏa đầu vụ Paoli đi tiếp vì không có giấy thông hành. Đồng thời đám cu li bỏ mặc đồ khuân vác đi trở về vì bị đối xử tàn bạo và không được trả công. Cuối cùng đoàn người cũng đến được những làng Mọi đầu tiên. Họ tạm tá túc tại làng Kon Jari Tul của tù trưởng Pim. Ông này được sự hợp tác của các nhà truyền giáo và các sĩ quan ở Bình Định đã đi điều đình lập liên minh giữa các bản làng người Bahnar, Rơn Gao, Bahnam và Hadrong. Mục đích để ngăn chặn sự chống đối của người Giarai, vốn đang là vấn đề ở vùng cao nguyên thời bấy giờ.
Quốc kỳ nước Sédang.
Quốc kỳ nước Sédang.
Vương quốc xứ Sédang
Tại bản làng này, vì thiếu người khuân vác, “Nam Tước de Mayréna” viết cho cha Guerlach một lá thư xin được hỗ trợ, không quên kèm theo hai thư giới thiệu của Đức Ông Van Camelbeke. Vào lúc này Mayréna bắt đầu treo lên trước túp lều của mình lá cờ hiệu màu xanh có hình các con chuồn, đồng thời vào ngày 28 Tháng Tư, ký với các tù trưởng Hmot và Pim hai hiệp ước liên minh và thân hữu, trong đó ghi rõ người Mọi hoàn toàn tự do sống theo phong tục tập quán và tín ngưỡng của họ. Họ chỉ vâng phục người Pháp chứ không tuân theo người An Nam. Họ không phải nạp thuế gì cho chính phủ An Nam. Bù lại họ sẽ được người Pháp bảo vệ trong mọi trường hợp bị tấn công. Hiệp ước xác nhận có sự chứng kiến của ông Mercurol, thông dịch viên Phạm Văn San, ông Huỳnh Văn Tư, một người An Nam nói được tiếng Mọi tên Gambier. Trước sự kinh ngạc của Cha Guerlach và các nhà truyền giáo khác, Mayréna giải thích việc làm của mình chỉ là giữ danh dự cho nước Pháp. Ông nói ông sẽ tập hợp tất cả dân tộc thiểu số sống độc lập mãi đến tận bờ sông Mê Kông. Khi không có tuyên bố nào của các thế lực Âu Châu, ông sẽ trao quyền lại cho nước Pháp, bù lại ông sẽ đòi quyền thừa hưởng các mỏ vàng. Để Cha Guerlach yên lòng, Mayréna khoe thêm thư giới thiệu của các ông Klobukowski, Lemire, nào là kể về chuyến hải hành trên chiếc Hải Phòng cùng với Toàn Quyền Constans, khoe về số tiền trợ cấp ông nhận được, việc Hội Đồng Thuộc Địa Nam Kỳ đề cử ông đi tìm cây cao su…
Bản đồ Đông Dương do ông E Stanford vẽ năm 1889. “Vương quốc Sédang” nằm trên cao nguyên Việt Nam và lấn sang Lào đến tận sông Mê Kông.
Bản đồ Đông Dương do ông E Stanford vẽ năm 1889. “Vương quốc Sédang” nằm trên cao nguyên Việt Nam và lấn sang Lào đến tận sông Mê Kông.
Ngày 13 Tháng Năm, đoàn quân đến đất thuộc giáo xứ của Cha Guerlach ở Kon Djéri Kong và nghỉ lại đây 10 ngày. Sau đó đoàn quân tiếp tục đi, lần này có sự tháp tùng của Cha Guerlach và đến giáo xứ của Cha Vialleton ở Kontoum ngày 23 Tháng Năm. Ngày hôm sau đến Kong Trang, thuộc giáo phận của Cha Irigoyen. Cha này vì thấy người đồng hương, quá mừng đến nỗi thưởng cho đoàn một con bò, mà người Mọi ở đây hạ thịt nó và đánh phèn la nhảy múa. Ngày 25, Cha Guerlach cùng Mayréna và đoàn người đến Polé Tebâu, rồi hôm sau thì đến Kon Trang Mené. Tại đây các chức sắc trong hội đồng bản tộc đồng ý bầu Mayréna làm trưởng và ký bản thỏa ước có ký nhận của Cha Guerlach và ông Mercurol. Ngày 28, họ đến Pekô, chi nhánh của sông Bla và được người bản địa đưa qua sông bằng bè, rồi tiếp tục thẳng đến làng Kon Gung Sui. Dân thiểu số ở đây cũng đồng ý ký giấy bầu Mayréna làm “sếp” mới, đồng thời yêu cầu “sếp” bắn những phát súng cạc bin vì họ thích nghe tiếng nổ. Không những vậy, các vỏ đạn được họ dùng làm đồ trang sức. Ngày 3 Tháng Sáu, 1888, Mayréna lập bản “Hiến Pháp của Vương Quốc Sédang,” mà tù trưởng của các làng đều ký tên. Mayréna bắt đầu nghĩ đến việc thành lập một vương quốc. Cuộc khảo sát lần thứ hai được thực hiện vào ngày 15 Tháng Sáu ở vùng đất Hamong Ketou, một làng rộng lớn nằm ở triền sông Pekô, bên dưới làng Kon Gung Jé.
Hoàng Đế Marie de Mayréna oai vệ trong bộ triều phục do ông tự vẽ lấy.
Hoàng Đế Marie de Mayréna oai vệ trong bộ triều phục do ông tự vẽ lấy.
Lên ngôi hoàng đế
Vào ngày 20 Tháng Sáu, tất cả tù trưởng đồng chấp nhận bản hiến pháp và ông Mayréna được công nhận là vua của họ. Mayréna nghiểm nhiên xưng đế lấy vương hiệu là Marie Đệ Nhất của xứ Mọi Sédang. Tháng Sáu 1888, ông lập triều đình Mọi và ký một loạt sắc lịnh, ban chức phẩm cho hoàng gia và các quan, phong bà Lê Thị Bền làm hoàng hậu, Mercurol làm bá tước và được quyền khai thác mỏ vàng, chỉ định kiểu quân phục, cử hai chúa Mọi làm thủ hiến hai nơi, chia nước ra làm 5 tỉnh, mỗi tỉnh có tỉnh trưởng, cấm người ngoại quốc không được vào xứ nếu không có phép của hoàng đế, cấm săn bắn voi vì voi thuộc sở hữu của hoàng đế, ấn định kiểu y phục của vua. Sau cuộc thám sát trở về, Mayréna ngã bệnh nặng nhưng vẫn nhờ Cha Guerlach viết giúp lá thư gửi cho toàn quyền, rồi ông sẽ ký tên. Thư do ông Mercurol mang đi gửi, trong đó có kèm bản sao bản hiến pháp cùng với bản tuyên bố mà báo Le Courrier d’Haiphong cho đăng tải. Lúc này, Cha Guerlach cũng yêu cầu cho mấy người Trung Hoa, người thông dịch và mấy người lính mã tà trở về theo vì không còn cần đến họ, hơn nữa Cha không đủ sức nuôi ăn tất cả trong thời gian quá lâu.
Khi đã hồi phục, Mayréna lại mở cuộc thám sát thứ ba ở vùng đất của người Sédang. Lần này chỉ có Cha Irigoyen đi theo vì Cha Guerlach đang bị sốt. Tại làng Kong Gung, Mayréna sửa đổi hiến pháp bằng cách thêm một số điều khoản và được những người Mọi công nhận, với sự chứng kiến của Cha Irigoyen. Lúc trở về, Mayréna nhờ Cha Guerlach dịch bản hiến pháp ra tiếng Pháp và tiếng Sédang, đồng thời làm hai bản sao, một gửi cho ông toàn quyền và một gửi cho bộ trưởng thuộc địa. Mayréna mang hai bản sao này đi trở xuống Qui Nhơn. Vào lúc này, bà vợ đầm của Mayréna ở Pháp gửi thư qua xin tiền. Ông liền ký đạo dụ tuyên bố ly dị bà Marie Francesca Avron, tôn con trai là Albert lên làm hoàng tử và con gái là Marie Louise làm công chúa nhưng phải ở lại bên Pháp, không được đi sang Sédang. Đạo dụ khác nói nếu bà Bền sinh con trai thì đứa đó sẽ là thái tử. Tuy nhiên bà Bền qua đời vì sốt rét rừng vào Tháng 9, 1888. Cạn túi, ông nghĩ đến việc du hành ra ngoại quốc để vận động người bỏ vốn mở mang kinh tế.
Hoàng thượng đi ra ngoại quốc vận động ngoại giao
Mayréna gửi thư đến tổng thống và thủ tướng Pháp, toàn quyền Đông Dương, khâm sứ các nơi Trung, Bắc Kỳ, Lào, Cao Mên, báo tin ông đã lên ngôi vua xứ Sédang, một nước độc lập liên minh với Pháp. Ông đặt làm nhiều huy chương tại Sài Gòn rồi dùng chúng để ban tặng cho nhiều người, kể cả chức tước. Ở Hồng Kông, Thái, Pháp, Bỉ, Hòa Lan, nhiều người cũng được ông tặng huy chương, và họ cũng mang trên áo để lấy le.
Các loại huy chương do vua Marie Đệ Nhất tự thiết kế và dùng chúng để ban tặng một cách hào sảng ở khắp nơi.
Các loại huy chương do vua Marie Đệ Nhất tự thiết kế để ban tặng một cách hào sảng ở khắp nơi.
Mayréna có biệt tài là tất cả công việc, như tổ chức quốc gia, quân đội, luật lệ, vẽ bản đồ, đặt cơ quan hành chánh đều do tay ông cả. Ông cũng kiêm nhiệm luôn các chức bộ trưởng, cảnh sát, người thâu thuế heo, trâu, vì người Mọi không hiểu gì về những công việc này. Đến nỗi có nhà báo không ngại gọi ông là “Napoléon xứ Sédang.” Mặc dù không được chính phủ thuộc địa ở Đông Dương công nhận, đến đâu Mayréna cũng vẫn xưng mình là vua. Được cho tiền và huy chương, một số tờ báo ở Sài Gòn viết bài ngợi khen. Báo Le Courrier d’Haiphong ở Hải Phòng, báo L’Avenir du Tonkin ở Hà Nội cũng có bài nhắc đến “Quốc Vương Marie Đệ Nhất. Nhờ đó mà dư luận quốc tế chú ý tới. Một phần vì lúc đó Anh, Đức, Hòa Lan đang ganh tỵ Pháp có thuộc địa ở Đông Dương, họ quay sang chú ý đến vùng cao nguyên. Mayréna ghé đến Qui Nhơn gặp Công Sứ Lemire và nói, nếu nước Pháp công nhận quốc gia Sédang thì ông sẽ ký hiệp ước thân thiện với Pháp và cho đặt một tòa lãnh sự ở xứ Mọi. Bằng không ông sẽ ký kết với Anh hoặc Đức. Ông Lemire vội điện cho ông toàn quyền ở Hà Nội, ông này gửi điện qua Paris chờ chỉ thị. Các báo Pháp đem chuyện này ra bàn tán, tên Marie Đệ Nhất được đăng trang trọng trên trang nhất nhưng với lời lẽ châm biếm. Cũng chính những tờ này sau khi được ban tặng huy chương liền đổi giọng điệu ngay.
Mayréna với tư cách là vua Marie Đệ Nhất đáp tàu của Đan Mạch đi Hồng Kông, ông mặc y phục nhà vua ngực đeo đầy huy chương và cho treo cờ hiệu trên cột cờ tàu. Xuống bến, ông được thống đốc Anh tiếp kiến, các báo đều phỏng vấn và xin hình. Mayréna tổ chức buổi tiếp kiến nhiều nhân vật và nhà tư bản Anh cũng như Tàu tại Hong Kong Hotel để thuyết phục họ bỏ vốn khai khẩn xứ sở của ông. Nhiều người Tàu, Pháp, Nhật, Anh,… được trao tặng huy chương. Lãnh Sự Pháp H Verleye đánh điện cho toàn quyền Đông Dương nói rằng nếu không nhìn nhận Marie Đệ Nhất, thì người Anh sẽ bỏ vốn giúp vua xứ Sédang mở mang biên giới, khai thác mỏ vàng và các rừng cao su, mà ai cũng đồn là có rất nhiều ở vùng rừng núi cao nguyên. Hơn nữa Anh cũng manh tâm muốn hất cẳng Pháp. Ngày hôm sau lãnh sự Pháp cũng mở tiệc mời Mayréna tham dự, năn nỉ ông đừng để nước Anh mua chuộc. Mayréna nói nếu ông không được nhìn nhận là vua xứ Mọi Sédang thì ông sẽ tuyên chiến với Pháp và kéo 10,000 quân xuống đánh tỉnh Bình Định. Toàn Quyền Constans biết rõ thủ đoạn lừa bịp của Mayréna, liền đánh điện cho lãnh sự Pháp và thống đốc Anh ở Hồng Kông biết rõ lai lịch của Mayréna, thêm rằng xứ Mọi Sédang chỉ là đất cao nguyên của vua An Nam do Pháp bảo hộ chứ không hề có quốc gia này. Thống đốc Anh bắt đầu hoài nghi Marie Đệ Nhất. Mayréna xoay qua tiếp xúc với lãnh sự Đức nhưng ông này cũng được lệnh tổng lãnh sự ở Bắc Kinh không được tiếp Mayréna. Dần dần ở Hồng Kông không còn ai tin Mayréna nữa, nhất là từ khi tờ Le Courrier d’Haiphong đăng liên tiếp nhiều kỳ các bức thư của Cha Guerlach, tố cáo Mayréna về những hành vi bịp bợm.
Trong số những người bị Mayréna gạt có một người Hoa Chợ Lớn tên A Kong, ông này bỏ ra nhiều tiền ủng hộ Mayréna với hy vọng được quyền khai thác mỏ vàng. Ông này cho Mayréna mượn tiền, trả chi phí đi tàu đến Hồng Kông, thuê khách sạn, may triều phục, 10,000 bộ quân phục và nhiều thứ lặt vặt khác. Nhờ vậy A Kong được phong làm bộ trưởng tài chánh nhưng chưa hề được vua bồi hoàn cho đồng nào. Khi Mayréna hỏi mượn thêm tiền thì A Kong chán nản bỏ về và kiện Mayréna tại Qui Nhơn. Trong lúc túng thiếu, Mayréna gặp một lái buôn người Pháp tên Henri de la Rousselière, ông vận động người này giúp đỡ tiền bạc, bù lại người này được phong làm thủ tướng. Nhờ xoay xở, Mayréna có tiền mua vé tàu sang Pháp với dự tính thuyết phục Paris công nhận ngôi vua của ông và kiếm thêm tiền trong khi chờ đợi kết quả. Ở Paris, ông được một số người Pháp giúp đỡ tiền bạc và họ đều được ông phong tước và ban tặng huy chương. Mayréna cưới Marie Julie Rose Lyeuté và phong bà này làm hoàng hậu. Sau khi không được tổng thống, bộ trưởng ngoại giao Pháp tiếp kiến, ngay cả xin thuyết trình tại Hàn Lâm Viện Thuộc Địa về vấn đề Sédang cũng bị từ chối, vua Marie Đệ Nhất cùng hoàng hậu và đoàn tùy tùng đi qua nước Bỉ vào ngày 20 Tháng Bảy, 1889. Tại Brussels, Mayréna lập triều đình, ký sắc lệnh cho hoàng hậu được quyền hạn ngang hàng với các bà hoàng ở Âu Châu. Ông cũng cho phát hành tem thư, đặt trụ sở tổng giám đốc bưu chính và một văn phòng lãnh sự ở đây nhưng tất cả đều từ tiền vay mượn hoặc thiếu chịu. Cuối cùng hoàng hậu bị bỏ rơi. Trước khi ra đi, hoàng hậu được tặng một hộp nữ trang mà liền sau đó bà mới biết là toàn đồ giả.
Giữa lúc nguy khốn, Mayréna được một triệu phú tên Somsy ở Brussels, vì ham danh vọng nên tình nguyện giúp ông về “nước” mở mang bờ cõi. Lập tức Somsy được Mayréna ký sắc lệnh phong làm quận công xứ Mọi Sédang. Quận công Somsy còn mộ thêm được năm sĩ quan toàn là người Bỉ đi theo. Cả năm, người thì được phong đại tướng, người thì thiếu tướng hoặc đại tá. Mọi người xuống tàu vào ngày 13 Tháng Giêng 1890. Tám ngày sau tàu cập bến ở Port Said, Ai Cập. Tại đây Mayréna mở một buổi tiệc vương giả, có sự tham dự của 23 nhân vật chức sắc địa phương, đồng thời cử người mở văn phòng lãnh sự. Ngày 2 Tháng Hai, tàu ghé bến Singapore, Mayréna đòi toàn quyền Anh cho nổ 21 phát súng đại bác chào đón ông theo nghi lễ một quốc vương nhưng bị từ chối. Lãnh sự Pháp tại đây báo tin cho toàn quyền Pháp ở Sài Gòn biết việc Mayréna đang trên đường trở về Đông Dương, dẫn theo đạo quân trong đó có ba trung tướng và hai đại tá, dự tính đổ bộ xuống Qui Nhơn. Ông toàn quyền liền cử một tàu chiến và nhiều tàu nhỏ đến Qui Nhơn sẵn sàng ngăn chận không cho tàu của Mayréna vào bến. Thấy vậy Mayréna thong thả sống cuộc đời đế vương ở Singapore rồi cưới một phụ nữ bản xứ tên Aisa và ký lệnh phong làm hoàng hậu. Mayréna gửi thư cho vua Xiêm xin mượn đường để về xứ Mọi, đồng thời đề nghị làm chư hầu của Xiêm để chống lại Pháp ở Đông Dương nhưng vua Xiêm không trả lời. Ở được ba tháng, tiền hết mà kết quả thì chưa thấy gì, hoàng hậu bỏ trốn đi, lần lượt đoàn tùy tùng ai nấy mỗi người đi mỗi ngã, chỉ còn một người tên Harold Scott chịu ở lại theo hầu và được phong làm bộ trưởng hải quân. Cả hai đáp tàu ra Pulau Tioman, một hòn đảo nhỏ xíu với vài trăm cây dừa và vài túp lều lá của ngư dân Mã Lai.
Ngày 11 Tháng Mười Một, 1890, vào lúc ba giờ chiều, trong lúc Mayréna vào rừng bắn chim không may bị một con rắn độc cắn. Ông cố trở về đến lều thì qua đời. Bộ trưởng hải quân của Mayréna gửi thư về Singapore báo tin. Tờ báo Daily Press phát hành ở Singapore, số ra ngày 28 Tháng Mười Một, có loan mấy dòng: “Một người Pháp tên Marie de Mayréna cư ngụ ở cù lao Tioman vừa bị rắn cắn chết trong Tháng Mười Một.” 
Vua Mayrena đã qua đời và xứ sở Sedang của ông cũng chết.
Triệu Phong
Bulletin Des Amis du Vieux Hué.
(nguồn : nghiencuulichsu.com)