21/02/2015

Bài học 17/2/1979 dành cho ai...

Ngày đó quân đội của CHND Trung Hoa đã tấn công thẳng vào lãnh thổ của Việt Nam DCCH, một nước có chủ quyền nhưng cũng là nước :" vừa là đồng chí, vừa là anh em" với họ. Một cuộc tấn công xâm lược không tuyên chiến nhưng có cảnh báo trước rằng sẽ có một bài học dành cho Việt Nam vì tội xâm lược Căm pu Chia Dân Chủ (Pon Pot), và vụ Nạn Kiều (Hoa Kiều)...



Cũng giống như các cuộc xâm chiếm Việt Nam trong thời kỳ Bắc Thuộc, quân đội Trung Cộng đã chia  làm ba hướng để tấn công, và cũng như trong lịch sử xâm lược Trung cộng đã ăn những đòn choáng váng ngoài dự tính, và cũng đã nhận thêm một bài học nhớ đời khi động đến lãnh thổ "Nam Quốc Sơn Hà..."
Hãy lướt qua một chút chiến sự dữ dội gói gọn trong một tháng bắt đầu ngày 17/2/1979 nhưng mở đầu cho một cuộc chiến kéo dài 10 năm sau đó (1979 - 1988) và kết thúc hèn hạ tại Hội nghị Thành Đô năm 1990. Và đó là điều mà người ta muốn quên lãng bao năm nay...
Điều dễ nhận thấy là Việt Nam đã đoán trước, hay được cảnh báo trước về "bài học" tàn nhẫn này. Các cơ sở phòng thủ tại chỗ được tăng cường, dân quân tự vệ được tăng cường các sĩ quan, các chính trị viên và vũ khí nặng. Các cơ sở phòng thủ được đảo chiều 180 độ, trước phòng thủ từ hướng Hà Nội, hướng biển lên để chống Mỹ, nay đảo ngược để chống người anh vĩ đại Trung Cộng.
Tình hình chiến sự thì mọi người đã biết chỉ có những điều không thể hiểu nổi ? Quân đội VN, lúc đó được coi là quân đội hùng mạnh đứng thứ 5 thế giới với trên 1, 5 triệu quân chính qui, với vũ khí được nhân đôi bởi tiếp quản khí tài của quân đội của VNCH, nhưng tầm vóc chống xâm lược thì không hề tương xứng. 
Suốt trong tháng trời chiến sự thì trên các mặt trận không hề có một cuộc tấn công phản kích của các lực lượng xứng tầm của lực lượng VN, các cuộc đột kích mũi nhọn vào sườn địch quân nhằm nhằm hỗ trợ tiếp cứu cho các chốt đang sống chết tử thủ với quân TC mạnh và trang bị tốt hơn nhiều với xe tăng và pháo binh hàng ngày khẩu, cũng không có những cuộc tấn công đặc công để cắt đường viện trợ và đe dọa mạng sườn đối phương nhằm giảm bớt áp lực cho các lực lượng đang phải đứng ở tuyến đầu. Đó là một bài học quân sự sơ đẳng của bất cứ một sĩ quan quèn nào. Nhưng đáng tiếc là ta đã hầu như không làm hết ngoài một số cuộc đột kích nhỏ cùng một cuộc tấn công lấy tiếng sang đất của Trung cộng rồi rút về ngay để phục vụ mục đích tuyên truyền.
Đã không có đơn vị tương đương, tức là cấp sư đoàn, trung đoàn chủ lực mà chỉ có các đơn vị dân quân tự vệ và các đơn vị chủ lực nhỏ tại chỗ. Không hề có sự điều động xứng đáng quân chủ lực từ Hà Nội lên để tiếp ứng cho các tuyến phòng ngự hay tiếp viện xứng đáng cho họ. Thậm chí lực lượng không quân khá hùng hậu lúc đó hàng ngày vẫn đi thả bom tham chiến ở tận Cămpuchia nhưng đã không hề, không hề tham chiến gì ở mặt trận Biên giới 1979. Các sư đoàn tên tuổi thiện chiến không chạm địch để bảo toàn lực lượng nên điềm tĩnh đóng quân ở tuyến sau quanh HN nhìn các đơn vị nhỏ và dân quân tắt thở dần trước sức mạnh của TC. 
Thanh niên và các cựu lính của VNCH, thậm chí cả các sĩ quan đang học tập cải tạo cũng có nhiều người tình nguyện ra chiến trường chống Tàu Cộng nhưng cũng đều bị từ chối thẳng thừng...
Các tuyến phòng thủ dài nhưng không hữu hiệu trừ những cứ điểm chiến lược dựa vào địa thế hiểm trở cùng quyết tâm sống chết của dân quân và bộ đội tại chỗ. Các chốt cứ điểm đã chiến đấu anh dũng vô song với gương hy sinh thật đáng khâm phục của chiến sĩ ta. Hầu như họ đã chiến đấu và hy sinh đến người cuối cùng trước khi thất thủ.  Có những hang động quân TQ đã nhiều lần trong nhiều ngày kêu gọi đầu hàng nhưng bị đáp trả nên đã bị đặt mìn san bằng, lấp kín... Dù vì tinh thần gì đi nữa thì thật đáng ngưỡng mộ, đáng ghi công đời đời cho ho với tinh thần chống xâm lược phương Bắc. Nó gợi cho lớp hậu thế chúng ta tự hào vì tình thần quyết tử khi bảo vệ Tổ Quốc giống như các chiến sĩ Xô Viết ở Xtalingrat 1942, các chiến sĩ và nhân dân Đức  phòng thủ Berlin năm 1945 hay các chiến sĩ và quân dân Nhật phòng thủ đảo Okianaoa 1945....
Đó là thời kỳ nước ta chuyển hướng bàn thờ theo kiểu bán láng giềng gần để mua anh em xa. Thờ ông anh Liên Xô nhưng được gì. Mặc dù Hiệp ước liên minh với Liên Xô mới ký trước đó vài tháng thì cuộc tấn công tàn bạo của Trung Cộng vào Việt Nam cũng chỉ nhận được những sự phản đối lấy lệ của Liên Xô. Ông anh phương xa đã "way and see" để xem sao. Cũng có động thái tăng cường khí cụ và cùng với Bungary ( đại diện cho khối quân sự Vacsovi) LX đã không vận cỡ 1 sư đoàn từ miền Nam ra Bắc. Nhưng như đã nói, các lực lượng này cùng các thành phần chủ lực đã lại được bố trí trấn đóng chung quanh Hà Nội chứ không hề được đưa lên tiếp cứu các đội quân đang anh dũng tử thủ với quâm thù. Và cuối cùng thì các vị trí, các thị xã chủ chốt đều đã thất thủ...
Lúc này thì Đỉnh Cao Trí Tuệ thời ấy mới cà cuống, sợ ông anh TQ dấn thêm nên các đầu lĩnh và cơ quan cơ yếu vội vã di tản khỏi Hà Nội, Các trại tù và các trại sĩ quan chế độ cũ đang học tập vội vã thiên di về Nam, xuống tận Cà Mau với các trại cải tạo mới mang tên Minh Hải (tên cũ của CM). Và cuối cùng sợ ông anh TC được thế làm càn, làm luôn cả HN giống như khi quân ta đầu tiên cũng định tấn công trả đũa ông em Căm pu chia đỏ thôi, nhưng được nước làm trọn vẹn luôn nên Ban CH TU Đảng CS VN đã ra lệnh Tổng Động Viên, cùng lời kêu gọi thống thiết của TBT Lê Duẩn về "con cá sống vì nước..."
Nhưng cũng khôi hài là chỉ một ngày sau lệnh TĐV, Trung Cộng đã ra lệnh rút quân sau khi "đã dạy cho VN một bài học" Và rồi những động thái khôi hài của hai bên trong một vở tuồng dở khi Đặng Tiểu Bình tuyên bố :"Nếu muốn thì TQ có thể tiến tới Hà Nội" Còn VN ta thì cũng khôi hài không kém khi tuyên bố :"cho phép quân đội TQ an toàn rút về nước"
Một cuộc chiến tranh giả dối, lừa lọc của kẻ Tráo trở lớn đánh nhau với kẻ Tráo trở nhỏ. Một vở diễn chiến tranh đẫm máu của đồng chí với anh em. Một âm mưu ganh đua hơn thua của phe phái tàn bạo của hai kẻ tàn bao. Một cuộc chiến tranh không đáng có nhưng nó đã xảy ra với bao cái chết anh dũng nhưng oan uổn, oan nghiệt của bao chiến sĩ và đồng bào ta...
Bài học cho Việt Nam là nếu không muốn bị chơi xấu thì đừng kết bạn với kẻ xấu, và nó không phải chỉ là bài học cho quá khứ mà còn cho hiện tại và cho tương lai của dân tộc nữa...
Có chiến sĩ ra đi mãi không về
Để người vợ trẻ ngẩn ngơ ngóng chồng.. 
Trong đêm khuya ai gào trong gió,
Tiếng ai hờ nấc nghẹn cả dòng sông
Ai đi về trong đêm đông buốt giá
Để ai buồn với nỗi nhớ mênh mông...
Tưởng nhớ bao chiến sĩ đã không về trong mùa Xuân tang thương ấy...

Mai Tú Ân

14/02/2015

Không bao giờ tôi khóc cho ông Nguyễn Bá Thanh, Võ Nguyên Giáp...

Với sự tôn trọng một người vừa nằm xuống, cũng như tôn trọng mọi tình cảm mà người dân kính mến ông Nguyễn Bá Thanh tôi xin nói thẳng.



Ông NBT không phải là thần thánh, cũng không phải là bậc cha mẹ của dân thì khi đưa tang ông đừng khóc lóc như cha chết để đưa ông lên bậc thần thánh hay cha mẹ. Khóc như vậy sẽ mang tội báng bổ thánh thần hay đại bất hiếu với cha mẹ của mình.
Giờ này chỉ có ở xứ chú Ủn mới có sự khóc lóc gào thét. Khóc lắm thiên hạ lại nghĩ VN đem tuồng xứ chú Ủn về để diễn. Hay người ta lại bảo ông Thanh, giống ông Giáp có lắm họ hàng, con cháu mà khóc lóc kinh thế..
Nhìn vào tiểu sử của ông thì từ bé đến khi chết ông NBT luôn là một người CS và vĩnh viễn ông là một người CS. Nên chỉ những người CS hay kẻ bưng bê chế độ mới mới khóc lóc hay giả vờ khóc lóc mà thôi.
Riêng tôi thì chỉ kính trọng ông khi ông đã nằm xuống, và chỉ khi ông nằm xuống thì tôi mới kính trọng và chia buồn sâu sắc với gia đình ông. Nhưng những giọt nước mắt để khóc ông thì không. Không bao giờ, một giọt cũng không. Nếu phải khóc thì tôi khóc cho quê hương, khóc cho liệt nữ Phật Tử Tuyết Mai (hình) và cho anh hùng Hoàng Tuy đã tự thiêu để chống Tàu Cộng, khóc cho các văn nhân đang chịu tù đầy, khóc cho dân oan, dân khổ... Chớ với ông Nguyễn Bá Thanh bây giờ, hay với ông Võ Nguyên Giáp 2 năm trước thì không, ngay cả sự thương cảm cũng không.
Với các ông thì chỉ là sự cảm thông mất mát với gia đình các ông, giống như với mất mát của gia đình ông hàng xóm hoặc ông tổ trưởng dân phố của tôi mà thôi...
Với tất cả sự trân trọng.
Mai Tú Ân

13/02/2015

Xin Chúa cứu vớt linh hồn ông...

Anh Thanh ơi hỡi anh Thanh,
Anh về phân bắc, phân xanh đầy đồng...
(Thơ Bút Tre)



Dù ông là ai, làm gì đi nữa thì ông vẫn là một người đáng kính trọng khi nằm xuống. Xin gửi một nén tâm nhang cho linh hồn ông, và lời chia buồn đến  gia đình ông...
Xin Chúa cứu vớt linh hồn ông. Amen.
Mai Tú Ân

09/02/2015

Em là ai, cô gái hay nàng Tiên...



Ôi, đẹp quá". Nhà thơ vườn MTA choáng và  ngẩn ngơ với một bóng hồng đang vườn hoa dạo gót chân sen, MTA không thể cưỡng lại mà cũng rảo bước theo. Cô gái dáng yêu kiều, mềm mại trong tà áo dài thướt tha, bước ung dung trước bao cặp mắt ngưỡng mộ của những người đang đi dạo trong công viên. Khuôn mặt nghiêm nghị nhưng luôn tỏa sáng một vẻ đẹp vừa thiên thần vừa trẻ thơ. Đôi mắt mới quyến rũ làm sao khi thỉnh thoảng nàng ban cho một cái nhìn khiến chàng thi nhân chuyên thơ con cóc MTA quên hết tổ quốc mẹ hiền, mà chỉ muốn có ngay những vần thơ đẹp nhất, trác tuyệt nhất để ca ngợi nàng tiên kiều diễm nhất...
Quả là có phúc cho bậc cha mẹ nào sinh được một người con gái đẹp hơn hoa hậu, và ngàn lần hạnh phúc hơn  cho người đàn ông nào của nàng...

Vả như đọc được những vần thơ bay bổng mà MTA sắp tuôn ra để ca ngợi nàng, ca ngợi cái đẹp thần tiên trong một buổi tối thần tiên, nàng tiên ấy thỏ thẻ oanh vàng lên tiếng :
- Tàu nhanh 500k. Tiền phòng anh lo. Nhớ lấy 2 bao cao su...
MTA

08/02/2015

Không hành động gì mới đáng trách...

Nhân ủng hộ ý tưởng tuyệt vời :"Je suis Charli - Je suis Bọ Lập" của các ông Nguyễn Quang A, Lê Xuân Khoa và Sam Pham...về việc lên tiếng kêu gọi mọi người ủng hộ cho các nhà đấu tranh dân chủ đang bị cầm tù bất công, thì MTA có chế biến thêm bằng cách đưa một số danh nhân thế giới vào câu khẩu hiệu đó.  Kẻ khen, người chê trách, người nhắc nhở rằng sẽ không hợp đạo, không hợp pháp khi chưa được sự cho phép của những người nổi tiếng đó. Tôi hoàn toàn đồng ý với sự nhắc nhở đó, vì đó là điều trái với chuẩn mực đạo đức thông thường cũng như lợi dụng đến các bậc vĩ nhân...


Nhưng, ở đời luôn có chữ nhưng cho một vấn đề, luôn có hai mặt cũng của một vấn đề.  Đúng là có sự không hợp pháp, hợp đạo khi ta chưa được phép của các Thánh Nhân như M. Gandi, Đạt Lai Lạt Ma, Nelson Mandela...mà cứ gán vào hình ảnh họ những cái tên như Bùi Hằng, Ba Sàm, Bọ Lập, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Quốc Quân...v..v.. Và việc gắn tên này cũng chỉ có mục đích kêu gọi những người có lòng luôn nhớ rằng có những con người tự nguyện dấn thân đang bị đầy ải bất công trong tù, và chỉ với những người đang ở trong tù mà thôi.
Việc gắn tên này không hợp pháp, vậy xin hỏi trong cuộc đấu tranh đòi dân chủ, công bằng xã hội, quyền con người, chống hiểm họa phương Bắc, giúp dân oan... hiện nay trên toàn đất nước Việt Nam của chúng ta có được coi là hợp pháp không ? Mặc dù đó là chính nghĩa, được đa số người dân ủng hộ nhưng có được chính quyền coi là hợp pháp không ? Mặc dù những hành động đó là những hành động của lương tâm và phẩm giá của thời đại nhưng có được chính quyền coi là hợp pháp, hợp đạo không ?
Ai dính dáng đến thì bị kỳ thị, bị mất việc, bị gán ghép vô lý là phản động thì có hợp lý không. Chính quyền dùng các điều luật vô lý và lỗi thời như điều 87, 88, 258 BLHS để trấn áp họ có hợp đạo, hợp lý  không ? Và cuối cùng thì cho bắt bớ giam cầm chính những con người đấu tranh ôn hòa, những chiến sĩ đấu tranh mà chúng ta nhắc tới đó thì có hợp đạo không ?
Vậy thì chúng ta cũng có thể làm những việc không hợp đạo, hợp pháp lắm trong một chừng mực chấp nhận được để lên tiếng đấu tranh đòi tự do cho những người đang phải trả nợ cho quê hương xứ sở, và không chỉ cho cá nhân họ mà cho những điều cao đẹp cho tất cả. Chúng ta phải thấy mình là chính nghĩa, bất vụ lợi cá nhân và dẹp bỏ đi những suy nghĩ hạn hẹp, những định kiến nhỏ nhặt để hướng tới những điều lớn lao hơn, tốt đẹp hơn cho toàn dân tộc. Chúng ta phải làm liên tục, không mệt mỏi và đa dạng dưới mọi hình thức để đạt bằng được những mục đích. Đó là những văn nhân dấn thân đó phải được tự do. Vì những con người mà chúng ta tranh đấu đòi tự do cho họ đó chính là những người đã vì những mục đích tốt đẹp của tất cả chúng ta, chứ không phải cho riêng bản thân họ...
Còn trong việc cụ thể này thì tôi tin rằng những vĩ nhân mà chúng ta nói đến sẽ vui lòng đồng hành cùng với chúng ta vì những điều mà chúng ta đang làm cũng là những điều mà các bậc vĩ nhân ấy đã hiệu triệu, dẫn dắt thế giới từ bao năm nay rồi.
Có những việc làm vì chính nghĩa, vì người khác thì dù việc ấy có vô ích, có bị chê trách, thậm chí bị tù tội thì vẫn nên làm. Còn hơn là vì vô cảm, vì sợ, vì hèn nhát mà không làm gì cả...
Mai Tú Ân

07/02/2015

Lịch sử đạo Hồi...

Trong lịch sử thế giới, chưa từng có một tôn giáo nào bành trướng một cách mạnh mẽ và nhanh chóng cho bằng đạo Hồi. Từ một nhóm người du mục sống trong một ốc đảo heo hút giữa sa mạc Syro-Arabia đã mau chóng biến thành những con người đầy quyền lực tung hoành từ Cận Đông đến Âu Châu và từ Bắc Phi đến tận các nước Châu Á:



Chỉ trong vòng 10 năm kể từ ngày giáo chủ Muhammad qua đờ...i (632-642) quân Hồi Giáo Ả Rập đã chiếm trọn bán đảo Arabia (rộng gấp 8 lần Việt Nam), chiếm Iraq, Syria, Palestine, Ai Cập và phía Tây nước Iran.


- Trong 2 năm (648-649), quân Hồi chiếm Carthage, Tunisia.

Một điều làm cho cả thế giới kinh ngạc là lần đầu tiên người Ả Rập chiếm một nước Âu Châu, đó là Hy Lạp.

- Thừa thắng xông lên, người Hồi Giáo Ả Rập mở cuộc chiến tranh đánh Tây Ban Nha. Sau 5 năm, người Hồi chiến thắng đã chiếm trọn nước Âu Châu rộng lớn và nổi tiếng sùng đạo Công Giáo nhất thời bấy giờ.

- Năm 712, quân Hồi Giáo chiếm trọn Iran (Ba Tư) và dùng nước này làm bàn đạp tiến quân đánh chiếm các nước Trung Á ở phía nam nước Nga, chiếm vùng Bắc Ấn rộng lớn (nay là Pakistan và Afganistan) và xâm nhập phía Tây Trung Quốc – Quân Hồi bị quân nhà Đường chận lại tại sông Talas nên phải rút về Trung Á.

Sự xuất hiện và bành trướng của đạo Hồi trong thế kỷ 7 hung bạo dữ dội như cơn gió xoáy (tornado) khiến cho cả thế giới phải kinh hoàng.

Chúng ta thử tìm hiểu những nguyên nhân nào đã khiến cho đạo Hồi có thể bành trướng với tốc độ vũ bão như vậy. Các sử gia đã phân tích 3 nguyên nhân sau đây:

Nguyên nhân 1: Qua nhiều ngàn năm sống trên các cánh đồng cỏ ở sa mạc Syro-Arabia, kiếp sống lang thang của những người Ả Rập càng ngày càng trở nên khó khăn vì đất đai ngày càng trở nên khô cằn. Từ thế kỷ 6, bộ lạc Quraysh (tổ tiên của Muhammad) có sáng kiến bỏ nghề du mục để chuyển hẳn sang nghề thương mại. Họ tổ chức các cuộc đi buôn đường xa với những đoàn lữ hành (caravans) gồm hàng trăm người và rất nhiều ngựa, lạc đà để chở hàng hóa lương thực, lều vải, vũ khí… Dần dần, thị trường ngày càng được mở rộng, nhu cầu thương mại gia tăng, những đoàn lữ hành có thể gia tăng lên tới nhiều ngàn người.

Do nhu cầu tự vệ, mọi người trong đoàn lữ hành đều phải học cưỡi ngựa, cưỡi lạc đà, luyện tập sử dụng các thứ vũ khí như gươm giáo cung tên, kể cả võ thuật và chiến thuật quân sự. Ngoài ra, họ học nói nhiều ngoại ngữ, học cả địa lý và phong tục tập quán của các nước lân cận để gia tăng khả năng giao dịch thương mại. Trải qua nhiều thập niên, những thương gia (traders) Ả Rập trở thành những người đa tài, đa năng và đa hiệu. Họ chẳng những là những thương gia rành nghề mà còn là những quân nhân thiện chiến, kỹ luật và còn là những người lãnh đạo quần chúng.

Vào đầu thế kỷ 7, Mecca là thủ phủ của những người Quraysh đã trở nên một trung tâm thương mại lớn nhất tại Trung Đông. Những người Quraysh không còn có dáng dấp quê mùa nghèo khổ của thế kỷ trước nữa trái lại họ đã trở thành những người văn minh giàu có. Điều đó làm cho nhiều bộ lạc Ả Rập khác phải thèm muốn và cố gắng noi theo. Một trong những bộ lạc nổi tiếng hung dữ là bộ lạc Bedouins bắt chước bộ lạc Quraysh đã bỏ nghề du mục và tham gia vào các đoàn caravanscủa Mecca.

Vào giữa thế kỷ 7, gặp cơ hội đạo Hồi phát triển, các bộ lạc Ả Rập, nhất là Quraysh và Bedouin, đã nô nức nhập cuộc dùng tôn giáo làm phương tiện bành trướng lãnh thổ để thay đổi môi trường sống tại bán đảo Ả Rập quá cằn cỗi.

Nguyên nhân 2: Từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 7, toàn vùng Trung Đông và Bắc Phi bị hai đế quốc Byzantine và Sassanian thay phiên nhau thống trị. Đế quốc Byzantine là hậu thân của đế quốc La Mã, được Đại Đế Constantine thành lập năm 330, đặt thủ phủ tại hải cảng Byzantine của Hy Lạp. Từ đời Constantine (thế kỷ 4) đến đời hoàng đế cuối cùng của đế quốc Byzantine vào giữa thế kỷ 15, tất cả đều là những hoàng đế theo Ki Tô Giáo Đông Phương (Eastern Christian Church) sau này trở thành Chính Thống Giáo. Đế Quốc Sassanian là đế quốc Ba Tư, tồn tại 427 năm (từ năm 224 đến 651). Các hoàng đế của đế quốc Sassanian đều theo đạo Hỏa Giáo (Zoroastrianism). Cả hai đế quốc nói trên đánh nhau liên miên suốt 4 thế kỷ, đến đầu thế kỷ 7 thì cả hai đế quốc này đều bị kiệt quệ tạo nên một khoảng trống quyền lực (a power vacuum) tại Trung Đông và Bắc Phi. Do đó, những đoàn kỵ binh của Hồi Giáo Ả Rập đã tiến vào lãnh thổ của cả hai đế quốc này như tiến vào chỗ không người.

Nguyên nhân 3: Giáo lý đạo Hồi là sản phẩm của người Ả Rập nên được người Ả Rập đón nhận một cách dễ dàng và tự nhiên. Từ thời xa xưa, người Ả Rập đã chấp nhận niềm tin của Abraham, nghĩa là tin có Thiên Chúa (tiếng Ả Rập gọi là Allah) tin có Thiên đàng, Hỏa ngục, tin có các thiên thần v.v… Cho nên người Ả Rập không coi Hồi Giáo như một đạo ngoại lai mà là đạo cổ truyền của dân tộc. Văn thơ trong kinh Koran đối với người Ả Rập là những áng thơ văn tuyệt tác. Mỗi khi họ đọc kinh Koran là một dịp họ ngâm thơ, họ cảm thấy những vần thơ đó rất hấp dẫn vì rất hợp với khiếu thẩm mỹ văn chương của họ. Ý niệm thánh chiến (Jihad) và ý niệm tử đạo (martyrdom) hoàn toàn phù hợp với tâm lý vốn hung bạo của người Ả Rập vì họ rất quen thuộc với cuộc sống đầy bất trắc tại sa mạc. Kinh Koran mô tả thiên đàng rất hấp dẫn đối với các chiến binh trẻ tuổi: Sau khi chết trận, được coi như tử đạo, sẽ được Chúa cho lên thiên đàng để hưởng đủ lạc thú cho đến muôn đời. Lạc thú độc đáo nhất mà chỉ đạo Hồi mới có, đó là những người chết trận hoặc tử đạo đều được những cô gái trinh tuyệt đẹp đón tiếp và phục vụ lạc thú tình dục cho đến muôn đời vì mọi người ở thiên đàng đều trẻ mãi không già! Niềm tin đặc biệt này đã là một yếu tố tâm lý quan trọng khiến cho những người lính Hồi Giáo trở thành những chiến sĩ rất dũng cảm trong các cuộc thánh chiến. Chỉ vì cuồng tín, những đoàn quân Hồi Giáo đã lập nên những chiến công oanh liệt như những kỳ tích vượt xa sự dự tưởng của mọi người.

Những cuộc chiến tranh mở rộng nước Chúa của Hồi Giáo (Kingdom of Allah) từ ngày lập đạo tới nay có thể được chia ra làm hai thời kỳ:

- Thời kỳ I- từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 13: Đạo Hồi bành trướng và phát triển tạo thành một số quốc gia theo đạo Hồi, đứng đầu cộng đồng Hồi Giáo là một vị vua được gọi là Caliph, có nghĩa là “người kế vị giáo chủ Muhammad về phương diện thế quyền “. Xin ghi thêm ở đây là đạo Hồi tin giáo chủ Muhammad là thiên sứ cuối cùng của Allah cho nên không một ai có quyền tự xưng là kẻ thừa kế của Ngài về phương diện thần quyền.

- Thời kỳ II- từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 20: Do những biến cố đặc biệt của thế giới đã đưa đến sự hình thành ba đế quốc Hồi Giáo. Trước hết là sự xâm lăng của quân Mông Cổ chiếm các nước Trung Đông và sau đó chiếm các nước Bắc Ấn và nhiều nước Á Châu khác tạo thành một đế quốc Mông Cổ rộng lớn. Từ cuối thế kỷ 13, nhiều hoàng đế Mông Cổ theo đạo Hồi đã tạo nên đế quốc Hồi Giáo Mughul (do chữ Mongol mà ra). Trong thế kỷ 15, tại Âu Châu, người Thổ Nhĩ Kỳ Hồi Giáo chế ra thuốc súng và lập ra binh chủng pháo binh đầu tiên trên thế giới. Dựa vào sức mạnh quân sự, người Thổ Hồi Giáo xua quân đánh chiếm nhiều nước trên cả 3 lục địa Âu, Á, Phi và lập nên đế quốc Ottoman. Cuối cùng, dân tộc Azerbaizan ở tây nam biển Caspian bỗng nhiên trở nên hùng mạnh vào đầu thế kỷ 16, cất quân đánh chiếm nhiều nước Âu Châu và Trung Đông tạo thành đế quốc Safavids theo giáo phái Shiite.

I. THỜI KỲ CAI TRỊ CỦA CÁC CALIPHS (The Caliphate Rulers)

Bốn người kế vị đầu tiên của Muhammad (632-661):

Danh từ Hồi Giáo Ả Rập gọi chung cả bốn vị thừa kế đầu tiên của giáo chủ Muhammad là RASHIDUN – Họ được coi là 4 trụ cột của Hồi Giáo trong thời kỳ sơ khai. Họ đã lần lượt thay thế nhau trong 29 năm kể từ khi Muhammad qua đời, nhưng những việc làm của họ đã có những ảnh hưởng hết sức lớn lao cho sự tồn vong của đạo Hồi. Bốn vị đó là : Abu Bakr, Umar Khattab, Uthman Affan và Ali Talib.

1. Abu Bakr (632-634). Sau khi Muhammad qua đời, cộng đồng Hồi Giáo non trẻ lâm vào tình trạng hỗn loạn vì không có lãnh đạo. Không một ai được đa số tín đồ Hồi Giáo tín nhiệm bầu lên làm nguời kế vị Muhammad. Trước tình thế bế tắc đó, Abu Bakr tự động đứng lên dành quyền lãnh đạo. Ông là một thương gia giàu có và có uy tín bậc nhất ở Mecca. Ông đã nghiêm khắc ra 2 lệnh cấm khẩn cấp để bảo vệ đạo Hồi và cộng đồng Hồi Giáo:

- Tuyệt đối cấm không một tín đồ nào được rời bỏ cộng đồng Hồi Giáo (Islamic confederacy)

- Không một ai được tự xưng là tiên tri vì Muhammad là vị tiên tri cuối cùng của Thiên Chúa trên thế gian này.

Abu Bakr đã mau chóng phá tan các âm mưu chia rẽ cộng đồng Hồi Giáo và chỉ sau 2 năm, toàn bán đảo Ả Rập đã theo đạo Hồi. Bán đảo Ả Rập rất rộng lớn, (gấp 8 lần diện tích Việt Nam) hiện được chia thành nhiều quốc gia độc lập: Saudi Arabia, Yemen, Quatar, Omar và Emerite.

2. Umar Khattab (634-644). Sau khi Abu Bakr qua đời, Umar được bầu làm người kế vị (Caliph) cai quản cả một cộng đồng Hồi Giáo rộng lớn trên toàn bán đảo Ả Rập.

Umar là một thiên tài quân sự kiệt xuất trong lịch sử Hồi Giáo. Ông đã ban hành trên toàn lãnh thổ Ả Rập những biện pháp sau đây:

- Để bảo toàn lực lượng Hồi Giáo, các bộ lạc trong Cộng đồng đạo Hồi tuyệt đối không được đánh nhau.

- Mọi người nam giới trong các bộ lạc trên lãnh thổ bán đảo Ả Rập đều là các binh sĩ, tất cả đều được huấn luyện quân sự và được sắp xếp thành các đơn vị quân đội. Umar tự xưng là “Tư lệnh của các tín đồ” (The commander of the faithful). Sau hai năm huấn luyện các binh sĩ và trang bị vũ khí đầy đủ, Umar bắt đầu mở mang nước Chúa bằng sức mạnh quân sự:

* Năm 636, Umar đích thân chỉ huy quân Hồi Giáo chiếm Iraq và Syria.

* Năm 637, Umar chiếm toàn lãnh thổ của đế quốc Sassanian (Ba Tư) và chiếm thành phố lớn nhất của đế quốc Byzantine là Anatolia.

* Năm 638, Umar xua quân chiếm Palestine và thánh địa Jerusalem.

* Năm 641, Umar chiếm toàn bộ các nước Bắc Phi gồm Ai Cập, Algeria, Tunisa và Maroc.

Một điều đáng chú ý là những đoàn quân Hồi Giáo đã tiến chiếm những vùng đất xa xôi thuộc nhiều hướng khác nhau nhưng vị chỉ huy tối cao là Umar vẫn đặt bản doanh ở Medina, một ốc đảo trong sa mạc Syro – Arabia. Ông chỉ huy các đoàn quân Hồi Giáo trên những sa bàn và những bản đồ tại văn phòng của ông. Dưới sự lãnh đạo kiệt xuất của Umar trong 10 năm, Hồi Giáo từ một giáo phái nhỏ ở sa mạc đã biến thành một đế quốc rộng lớn. Các tín đồ Hồi Giáo cho đó là một phép lạ của Allah, trong khi Âu Châu bắt đầu cảm thấy e ngại trước sự lớn mạnh của một tôn giáo mới.

Họ gọi đạo Hồi là “đức tin của bạo lực” (A violent faith) hoặc là một “tôn giáo quân phiệt” (a militaristic religion). Vào một ngày định mệnh trong tháng 11 năm 644, trong khi Umar đang cầu nguyện trong đền thờ tại Medina thì bị một tù binh người Ba Tư đâm chết.

3. Uthman (644-656). Uthman là cánh tay mặt và phục vụ dưới trướng của Umar 10 năm. Uthman đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm về tài thao lược quân sự của người tiền nhiệm. Vào lúc nầy, Hồi Giáo là một quyền lực quân sự lớn ở trong vùng vì họ đã tịch thu được rất nhiều chiến lợi phẩm quân sự và tích lũy được rất nhiều tài nguyên kinh tế dự trữ tại các vùng chiếm đóng. Dưới sự lãnh đạo tài ba của Uthman trong 12 năm, quân Hồi đã lập nên nhiều kỳ tích chưa từng thấy:

- Trước hết, quân Hồi chiếm Hy Lạp và nhiều nước phía đông Địa Trung Hải.

- Mấy năm sau, một cánh quân tiến về phía Tây chiếm Libya.

- Một cánh quân khác tiến về phía đông chiếm nước Âu Châu Armenia, tiến vào miền Caucase của Nga. Trong khi đó một cánh quân khác tràn xuống phía nam đánh chiếm Bắc Ấn Độ (tức Afganistan và Pakistan ngày nay).

Tới lúc này, Hồi Giáo đã thành một đế quốc mênh mông kéo dài từ Âu sang Á tới Bắc Phi. Những quân lính Ả Rập Hồi Giáo hầu hết đều đã xa nhà trên 10 năm, phần đông đều cảm thấy chán nản. Nhiều tướng lãnh Hồi Giáo xa chủ tướng đã quá lâu nên cũng mất đi tình thân ban đầu.

Năm 656, một nhóm tướng và binh sĩ bất mãn đã bất thần trở về Medina vây bắt và giết chết Uthman tại chỗ. Nhóm này đưa Ali Talib lên làm vị Caliph thứ tư của Hồi Giáo.

4. Ali Talib (656-662). Vụ sát hại Uthman để đưa Ali lên thay là một biến cố vô cùng tai hại cho Hồi Giáo trong suốt nhiều thế kỷ qua và có thể còn kéo dài mãi mãi về sau. Ali là em họ và đồng thời là con rể của Muhammad. Khi vừa được bầu lên làm Caliph, Ali đã gặp phải sự chống đối của Muawiyah là người nhà của Uthman. Muawiyah lúc đó là quan toàn quyền Hồi Giáo cai trị Syria lên tiếng chỉ trích Ali đã không trừng phạt kẻ sát hại Uthman. Ali mang quân đến đánh Muawiyah nhưng hai bên đánh nhau khá lâu không phân thắng bại nên phải ngưng chiến. Năm 662, Ali bị ám sát chết. Muawiyah tự cho mình là người đang nắm quyền lực quân sự mạnh nhất nên tự xưng là Caliph lãnh đạo cộng đồng Hồi Giáo. Y tự ý dời thủ đô Hồi Giáo từ Medina về Damacus lúc đó là thủ đô của Syria. Muawiyah mở đầu cho một triều đại Hồi Giáo kéo dài tới 6 thế kỷ. Đó là triều đại Umayyad (Umayyad Dynasty) gồm những vị vua cai trị các nước Hồi Giáo, tất cả đều tự xưng là Caliph (661-1250). Do đó, tất cả các vua Hồi Giáo thuộc triều đại Umayyad đều được gọi chung là “Caliphate Rulers”, có nghĩa là các nhà lãnh đạo cộng đồng với tư cách là người kế vị Muhammad.

Riêng cá nhân Muawiyah cai trị toàn bộ cộng đồng Hồi Giáo rộng lớn trong 19 năm. Ông biến những người theo ông thành một giai cấp quí tộc mới, nói đúng hơn là một giai cấp thống trị (a ruling class). Chủ thuyết của Muawiyah là cai trị dân bằng sức mạnh quân sự (military aristocracy). Muawiyah chết vì bệnh năm 680.

Trong thời gian đó, những người Hồi Giáo thân Ali đã lập ra một giáo phái mới là giáo phái Shiite. Số tín đồ Hồi Giáo còn lại được gọi chung là Sunni, có nghĩa là Đa số. Năm 680, vua Yazid (con của Muawiyah) đến Medina chặn bắt con trai của Ali là Husayn và giết nhiều người thuộc giáo phái Shiite. Năm sau (681), Yazid mang quân trở lại Medina (nơi ở cuối cùng của Muhammad) tàn phá và dìm thành phố thánh địa này trong biển máu. Để trả thù, giáo phái Shiite mang quân chiếm thánh địaMecca và tàn phá nặng nề thành phố này. Từ đó đến nay, trải qua trên 13 thế kỷ, hai giáo phái Sunni và Shiite thường xuyên xung đột nhau nhiều trận đẫm máu. Số người tử trận cả hai bên có thể lên tới nhiều chục triệu người. Đây là một thảm họa lớn nhất trong lịch sử thế giới Hồi Giáo.

II. THỜI KỲ CỦA NHỮNG ĐẾ QUỐC HỒI GIÁO – TỪ THẾ KỶ 13 ĐẾN THẾ KỶ 20.

1. Đế Quốc Mughul :

Mughul là tiếng phiên âm Ả Rập để gọi người Mông Cổ (Mongol). Người sáng lập đế quốc Mông Cổ là Thành Cát Tư Hãn (Genghis Khan 1162-1227). Thoạt đầu ông thống nhất các bộ lạc du mục Mông Cổ vốn có tài cưỡi ngựa và bắn cung. Sau đó ông huấn luyện và tổ chức họ thành quân ngũ và biến họ thành những đoàn kỵ binh bách chiến bách thắng. Với đoàn quân hùng mạnh này, Thành Cát Tư Hãn đã lần lượt đánh chiếm nhiều nước từ Á sang Âu tới tận Trung Đông và Phi Châu. Luật tác chiến rất nổi tiếng của Thành Cát Tư Hãn là : Hễ tới nơi nào ngoan ngoãn đầu hàng thì tha, bất cứ một thành phố hay làng mạc nào chống cự đều bị phá bình địa và tất cả mọi người dân không kể già trẻ lớn bé đều phải chết!

- Năm 1219, quân Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn đánh chiếm Thổ Nhĩ Kỳ. Vua Thổ cùng đoàn tùy tùng bỏ chạy bị quân Mông Cổ truy kích qua Iran tới tận Azerbaizan thì bị bắt. Quân Mông Cổ tới đâu đều để lại phía sau sự đổ nát hoang tàn.

- Năm 1231, hàng loạt các thành phố nổi tiếng của Hồi Giáo như Baghdad, Bukhara, Damacus… đều bị đốt phá bình địa với những xác chết la liệt trên đường phố. Dân chúng sợ hãi lũ lượt kéo nhau chạy qua các nước lân cận.

- Năm 1255, Mông Cổ hoàn thành một đế quốc rộng lớn bao la bao gồm Trung Quốc, Cao Ly, Ngoại Mông, hàng chục nước Trung Á và Bắc Ấn Độ, Syria, Palestine, Thổ Nhĩ Kỳ.

Nhưng một biến cố quan trọng đã xảy ra cho cả Hồi Giáo lẫn Mông Cổ, đó là vào năm 1295, hoàng đế Mông Cổ Ghazan Khan theo đạo Hồi thuộc giáo phái Sunni. Từ đó về sau, các hoàng đế Mông Cổ đều theo đạo Hồi. Càng về sau, các quan và cả triều đình Mông Cổ trong đế quốc đều thành những tín đồ Hồi Giáo thành tín. Các học sĩ Hồi Giáo Ả Rập (Ulama) được trọng dụng, nhất là trong việc soạn thảo các bộ luật hình sự và dân sự phỏng theo luật Hồi Giáo Sharia.

Hoàng đế Mông Cổ Timur Lenk đóng đô tại Thổ Nhĩ Kỳ xua quân đánh chiếm Iran năm 1387, chiếm hải cảng Golden Horde của Nga năm 1395, chiếm Ấn Độ năm 1398, tàn phá thủ đô New Delhi và giết hàng chục ngàn tù binh Hindu tại đây. Năm 1400,Timur chiếm hai nước Iran và Iraq. Tại đây, Timur ra lệnh tàn sát hàng triệu người thuộc giáo phái Shiite. Vì quá say máu chiến thắng, năm 1404, Timur kéo quân ngược về phía Trung Á rồi vượt biên giới tiến đánh vào phía Tây Trung Quốc. Cuộc chiến kéo dài qua năm sau, Trung Quốc phản công giết quân Mông Cổ rất nhiều và bản thân Timur cũng bị tử trận trong năm 1405.

Những hoàng đế Mông Cổ kế tiếp chú trọng việc mở rộng đế quốc ở Châu Á:

- Năm 1478, đế quốc Mughul chiếm Indonesia và biến nước này thành nước Hồi Giáo. Ngày nay, Indonesia là một nước đông dân nhất của thế giới đạo Hồi với trên 200 triệu dân.

- Từ 1520 đến 1837, đế quốc Mughul cai trị toàn Ấn Độ. (Ấn Độ mang tên Mughul Empire of India). Hoàng đế Mông Cổ đóng đô tại New Delhi. Năm 1643, hoàng đế Mông Cổ cho xây ngôi mộ của hoàng hậu ở ngoại ô New Delhi rất nổi tiếng, đó là ngôi mộ Taj Mahal..

- Năm 1747, đế quốc Mughul chiếm Afganistan và cai trị nước này 100 năm.

Năm 1831, người Anh chiếm Ấn Độ và chấm dứt đế quốc Mughul trên lục địa Châu Á.

2. Đế quốc Ottoman (1289-1924)

Danh từ Ottoman xuất phát từ tên của một bộ lạc du mục là OSMAN ở phía tây Thổ Nhĩ Kỳ. Bộ lạc này bắt đầu khởi binh từ năm 1280. Chỉ trong 9 năm, họ chiếm một vùng lãnh thổ rộng lớn gồm có Tây Nam Á Châu, Đông Nam Âu Châu và Đông Bắc Phi Châu. Họ gọi đế quốc của họ là OTTOMAN. Những người lãnh đạo đế quốc này đều theo đạo Hồi thuộc giáo phái Sunni.Họ chẳng những nổi tiếng về tài năng thao lược quân sự mà còn nổi tiếng về khả năng chính trị rất khéo léo của họ. Nhờ vậy, đế quốc Ottoman đã tồn tại qua 7 thế kỷ.

- Năm 1389, quân Ottoman chiếm Albania và Kosovo, biến vùng này thành những nước theo Hồi Giáo.

- Năm 1444, quân Ottoman đánh tan Thập Tự Quân của giáo hoàng La Mã tại Bulgaria.

- Tháng 4.1453, quân Hồi Giáo Ottoman xóa sổ đế quốc Byzantine, tức đế quốc Ki Tô Giáo Đông Phương và chiếm thủ đô của đế quốc này là thành phố Constantinople. Điểm son của Ottoman là sau khi chiếm Constantinople và nhiều lãnh thổ của Byzantine, Ottoman công bố chính sách khoan dung tôn giáo đối với Do Thái Giáo và Ki Tô Giáo. Nhờ vậy, trong nhiều thế kỷ sau, Ottoman đã mở rộng thương mại với các nước Âu Châu Ki Tô Giáo và trong lãnh thổ đế quốc không có một cuộc nổi loạn nào. Tuy nhiên, đối với giáo phái Shiite, Ottoman có một chính sách quyết liệt không khoan nhượng.

- Năm 1467, Ottoman công bố thánh chiến với giáo phái Shiite, các tín đồ Shiite trong đế quốc bị lùng giết.

- Từ 1467 đến 1520, quân Ottoman tiến chiếm Syria, Ai Cập, Bắc Phi và toàn bán đảo Arabia.

- Từ 1520 đến 1534, quân Ottoman chiếm Nam Tư và một phần Âu Châu tới thủ đô Vienne của Áo.

- Năm 1606, Ottoman chiếm Romania, Hungaria, Ba Lan và Tiệp Khắc. Tới lúc này, đế quốc Ottoman trở thành siêu cường quốc tế (World Power).

Từ đầu thế kỷ 19, các cường quốc Âu Châu (Anh, Pháp, Đức) bắt đầu xâm chiếm các phần đất của Ottoman và dồn đế quốc này vào chỗ suy tàn.

3. Đế quốc Safavids của giáo phái Shiite (1501-1779)

Thoạt đầu Safavids là một nhánh của giáo phái Shiite xuất phát tại nước Azerbaizan ở tây nam biển Caspian.

Năm 1501, lãnh tụ của giáo phái Safavids là Esmail khởi binh chiếm luôn cả nước Azerbaizan. Esmail tự xưng là “Vua Hồi Giáo” (Sha/Sultan) và ra lệnh cho toàn dân phải theo đạo Hồi (giáo phái Shiite). Ít lâu sau, Esmail xua quân đánh chiếm các nước lân cận theo Chính Thống Giáo là Armenia, Georgia và vùng núi Caucase của Nga. Trong thời gian chiếm đóng, quân Hồi Safavids đã giết hại rất nhiều người Chính Thống Giáo. Riêng tại Armenia, số tín đồ Chính Thống Giáo bị giết lên tới một triệu người. Sau đó quân Safavids chuyển qua phía đông tấn công thành phố Anatolia để dằn mặt đế quốc Ottoman theo giáo phái Sunni. Trong khi đó, một nhóm khác thuộc giáo phái Shiite ở Ba Tư nỗi lên cướp chính quyền của giáo phái Sunni. Nhóm nổi loạn ra lệnh cho cả nước Ba Tư phải theo Shiite, ai bất tuân lệnh đều bị giết. Tất cả các học sĩ (Ulamas) lãnh đạo giáo phái Sunni đều bị chém đầu, không sót một ai. Kể từ đó, nước Ba Tư (Iran) trở thành một quốc gia toàn tòng theo giáo phái Shiite. Các vua Hồi Giáo Ba Tư được gọi là SHA, vừa là vua vừa là giáo chủ, phần đông đều cực đoan và hung dữ.

Phần đông các học sĩ Hồi Giáo Ba Tư đều theo môn phái triết học thần bí (mystical philosophy) tóm tắt như sau: “Chính trị và tôn giáo là một, không thể tách rời. Mọi cải cách xã hội không thể vượt quá tư tưởng tôn giáo”.

Với bản chất cuồng tín cực đoan cố hữu của giáo phái Shiite, nay lại có thêm chủ thuyết thần bí của các Mullahs (học sĩ) giáo phái Shiite càng ngày càng trở nên cực đoan nguy hiểm. Họ luôn luôn có thái độ bất khoan dung với các tôn giáo khác, nhất là đối với giáo phái Hồi Giáo Sunni, chiếm 80% dân số đạo Hồi.

* * *

Như đã trình bày trên đây, từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 20, trong thế giới Hồi Giáo đã xuất hiện ba đế quốc riêng biệt và luôn tranh chấp với nhau. Cả ba đế quốc Hồi Giáo đã được thành lập và suy tàn vào những thời điểm khác nhau:

- Đế quốc Mughul thành lập đầu thế kỷ 13, suy tàn cuối thế kỷ 19.
– Đế quốc Ottoman thành lập cuối thế kỷ 13, suy tàn đầu thế kỷ 20.
– Đế quốc Safavids thành lập đầu thế kỷ 16, suy tàn trong thế kỷ 18.

Như vậy, hai đế quốc Hồi Giáo lớn mạnh nhất là Ottoman và Mughul đã cùng tồn tại song hành và chia nhau thống trị thế giới Hồi Giáo bao la trong 7 thế kỷ. Ít nhất là trong 200 năm, từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18, cả ba đế quốc Mughul, Ottoman và Safavids cùng tồn tại trong thế giới đạo Hồi (The Islamic World).

Từ thế kỷ 18 trở đi, các nước Âu Châu trở nên hùng cường mọi mặt đã đẩy lùi các đế quốc Hồi Giáo đến chỗ suy tàn. Khởi đầu là nước Nga đánh tan quân Ottoman ở vùng Biển Đen năm 1774, chiếm lại Armenia và vùng núi Caucase. Năm 1792, Nga chiếm Georgia và Romania từ tay Ottoman.

Đầu thế kỷ 19, Nga chiếm toàn bộ miền Trung Á gồm nhiều nước theo đạo Hồi thuộc đế quốc Mughul. (Sau Cuộc Cách Mạng Tháng Mười Nga năm 1917, các nước Hồi Giáo Trung Á đều biến thành các tiểu bang thuộc Liên Bang Xô Viết).

- Cũng trong đầu thế kỷ 19, Hòa Lan chiếm Indonesia và Mã Lai. Anh chiếm Ấn Độ bao gồm cả một tiểu lục địa (sau 1947, Ấn Độ bị chia thành nhiều nước: Pakistan, Bangladesh, Tích Lan và Ấn Độ).

- Cuối thế kỷ 19, Anh chiếm Ai Cập và Sudan. Pháp chiếm Algeria, Tunisia và Maroc.

- Đầu thế kỷ 20, Ý chiếm Lybia. Anh và Pháp chiếm Palestine, Jordan, Iraq, Syria và Liban.

Tóm lại, từ đầu thế kỷ 20, chỉ ngoại trừ một nước duy nhất là Thổ Nhĩ Kỳ, còn lại toàn bộ thế giới Hồi Giáo đều trở thành những thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Âu Châu.

Lịch sử bành trướng và phát triển của đạo Hồi luôn luôn gắn liền với chiến tranh và bạo lực. Vì thế đạo Hồi nổi tiếng là “tôn giáo của lưỡi gươm” (Religion of Sword) hoặc “tôn giáo quân phiệt” (Militaristic Religion). Kinh Thánh Koran của Hồi Giáo được gọi là “Cuốn sách của tử thần” (The Book of Death) và đức tin Hồi Giáo là: “đức tin hung bạo” (a violent faith). Trong hơn một thế kỷ qua, thế giới Hồi Giáo đã bị Tây Phuơng dồn vào thế suy kiệt mọi mặt. Họ không còn con đường nào khác hơn là thực hiện chủ nghĩa khủng bố. Về hình thức thì ngày nay chiến tranh có khác với ngày xưa, nhưng về thực chất thì chủ nghĩa khủng bố cũng là một hình thái của chiến tranh và bạo lực. Chỉ khác một điều: chủ nghĩa khủng bố là hình thái chiến tranh của những kẻ đã bị dồn vào thế yếu nhưng buộc phải chiến đấu với kẻ thù lớn mạnh hơn mình để tồn tại.

Nhìn về tương lai, chúng ta khó đoán được cuộc chiến tranh khủng bố sẽ đưa nhân loại đi về đâu, nhưng nhìn về quá khứ chúng ta phải công nhận sức mạnh của Hồi Giáo đã tạo nên nhiều thành tích quan trọng:

- Trong thế kỷ 7, Hồi Giáo Ả Rập tiêu diệt đế quốc Sassanian đã từng làm mưa làm gió ở Trung Đông trong 10 thế kỷ trước đó.

- Trong thế kỷ 15, Hồi Giáo Thổ Nhĩ Kỳ tiêu diệt đế quốc Ki Tô Giáo Byzantine (hậu thân của đế quốc La Mã) chặn đứng sự bành trướng của Ki Tô Giáo xuống bán đảo Ả Rập và Trung Đông.

- Trong 2 năm (648-649), quân Hồi chiếm Carthage, Tunisia.
Một điều làm cho cả thế giới kinh ngạc là lần đầu tiên người Ả Rập chiếm một nước Âu Châu, đó là Hy Lạp.
- Thừa thắng xông lên, người Hồi Giáo Ả Rập mở cuộc chiến tranh đánh Tây Ban Nha. Sau 5 năm, người Hồi chiến thắng đã chiếm trọn nước Âu Châu rộng lớn và nổi tiếng sùng đạo Công Giáo nhất thời bấy giờ.
- Năm 712, quân Hồi Giáo chiếm trọn Iran (Ba Tư) và dùng nước này làm bàn đạp tiến quân đánh chiếm các nước Trung Á ở phía nam nước Nga, chiếm vùng Bắc Ấn rộng lớn (nay là Pakistan và Afganistan) và xâm nhập phía Tây Trung Quốc – Quân Hồi bị quân nhà Đường chận lại tại sông Talas nên phải rút về Trung Á.
Sự xuất hiện và bành trướng của đạo Hồi trong thế kỷ 7 hung bạo dữ dội như cơn gió xoáy (tornado) khiến cho cả thế giới phải kinh hoàng.
Chúng ta thử tìm hiểu những nguyên nhân nào đã khiến cho đạo Hồi có thể bành trướng với tốc độ vũ bão như vậy. Các sử gia đã phân tích 3 nguyên nhân sau đây:
Nguyên nhân 1: Qua nhiều ngàn năm sống trên các cánh đồng cỏ ở sa mạc Syro-Arabia, kiếp sống lang thang của những người Ả Rập càng ngày càng trở nên khó khăn vì đất đai ngày càng trở nên khô cằn. Từ thế kỷ 6, bộ lạc Quraysh (tổ tiên của Muhammad) có sáng kiến bỏ nghề du mục để chuyển hẳn sang nghề thương mại. Họ tổ chức các cuộc đi buôn đường xa với những đoàn lữ hành (caravans) gồm hàng trăm người và rất nhiều ngựa, lạc đà để chở hàng hóa lương thực, lều vải, vũ khí… Dần dần, thị trường ngày càng được mở rộng, nhu cầu thương mại gia tăng, những đoàn lữ hành có thể gia tăng lên tới nhiều ngàn người.
Do nhu cầu tự vệ, mọi người trong đoàn lữ hành đều phải học cưỡi ngựa, cưỡi lạc đà, luyện tập sử dụng các thứ vũ khí như gươm giáo cung tên, kể cả võ thuật và chiến thuật quân sự. Ngoài ra, họ học nói nhiều ngoại ngữ, học cả địa lý và phong tục tập quán của các nước lân cận để gia tăng khả năng giao dịch thương mại. Trải qua nhiều thập niên, những thương gia (traders) Ả Rập trở thành những người đa tài, đa năng và đa hiệu. Họ chẳng những là những thương gia rành nghề mà còn là những quân nhân thiện chiến, kỹ luật và còn là những người lãnh đạo quần chúng.
Vào đầu thế kỷ 7, Mecca là thủ phủ của những người Quraysh đã trở nên một trung tâm thương mại lớn nhất tại Trung Đông. Những người Quraysh không còn có dáng dấp quê mùa nghèo khổ của thế kỷ trước nữa trái lại họ đã trở thành những người văn minh giàu có. Điều đó làm cho nhiều bộ lạc Ả Rập khác phải thèm muốn và cố gắng noi theo. Một trong những bộ lạc nổi tiếng hung dữ là bộ lạc Bedouins bắt chước bộ lạc Quraysh đã bỏ nghề du mục và tham gia vào các đoàn caravanscủa Mecca.
Vào giữa thế kỷ 7, gặp cơ hội đạo Hồi phát triển, các bộ lạc Ả Rập, nhất là Quraysh và Bedouin, đã nô nức nhập cuộc dùng tôn giáo làm phương tiện bành trướng lãnh thổ để thay đổi môi trường sống tại bán đảo Ả Rập quá cằn cỗi.
Nguyên nhân 2: Từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 7, toàn vùng Trung Đông và Bắc Phi bị hai đế quốc Byzantine và Sassanian thay phiên nhau thống trị. Đế quốc Byzantine là hậu thân của đế quốc La Mã, được Đại Đế Constantine thành lập năm 330, đặt thủ phủ tại hải cảng Byzantine của Hy Lạp. Từ đời Constantine (thế kỷ 4) đến đời hoàng đế cuối cùng của đế quốc Byzantine vào giữa thế kỷ 15, tất cả đều là những hoàng đế theo Ki Tô Giáo Đông Phương (Eastern Christian Church) sau này trở thành Chính Thống Giáo. Đế Quốc Sassanian là đế quốc Ba Tư, tồn tại 427 năm (từ năm 224 đến 651). Các hoàng đế của đế quốc Sassanian đều theo đạo Hỏa Giáo (Zoroastrianism). Cả hai đế quốc nói trên đánh nhau liên miên suốt 4 thế kỷ, đến đầu thế kỷ 7 thì cả hai đế quốc này đều bị kiệt quệ tạo nên một khoảng trống quyền lực (a power vacuum) tại Trung Đông và Bắc Phi. Do đó, những đoàn kỵ binh của Hồi Giáo Ả Rập đã tiến vào lãnh thổ của cả hai đế quốc này như tiến vào chỗ không người.
Nguyên nhân 3: Giáo lý đạo Hồi là sản phẩm của người Ả Rập nên được người Ả Rập đón nhận một cách dễ dàng và tự nhiên. Từ thời xa xưa, người Ả Rập đã chấp nhận niềm tin của Abraham, nghĩa là tin có Thiên Chúa (tiếng Ả Rập gọi là Allah) tin có Thiên đàng, Hỏa ngục, tin có các thiên thần v.v… Cho nên người Ả Rập không coi Hồi Giáo như một đạo ngoại lai mà là đạo cổ truyền của dân tộc. Văn thơ trong kinh Koran đối với người Ả Rập là những áng thơ văn tuyệt tác. Mỗi khi họ đọc kinh Koran là một dịp họ ngâm thơ, họ cảm thấy những vần thơ đó rất hấp dẫn vì rất hợp với khiếu thẩm mỹ văn chương của họ. Ý niệm thánh chiến (Jihad) và ý niệm tử đạo (martyrdom) hoàn toàn phù hợp với tâm lý vốn hung bạo của người Ả Rập vì họ rất quen thuộc với cuộc sống đầy bất trắc tại sa mạc. Kinh Koran mô tả thiên đàng rất hấp dẫn đối với các chiến binh trẻ tuổi: Sau khi chết trận, được coi như tử đạo, sẽ được Chúa cho lên thiên đàng để hưởng đủ lạc thú cho đến muôn đời. Lạc thú độc đáo nhất mà chỉ đạo Hồi mới có, đó là những người chết trận hoặc tử đạo đều được những cô gái trinh tuyệt đẹp đón tiếp và phục vụ lạc thú tình dục cho đến muôn đời vì mọi người ở thiên đàng đều trẻ mãi không già! Niềm tin đặc biệt này đã là một yếu tố tâm lý quan trọng khiến cho những người lính Hồi Giáo trở thành những chiến sĩ rất dũng cảm trong các cuộc thánh chiến. Chỉ vì cuồng tín, những đoàn quân Hồi Giáo đã lập nên những chiến công oanh liệt như những kỳ tích vượt xa sự dự tưởng của mọi người.
Những cuộc chiến tranh mở rộng nước Chúa của Hồi Giáo (Kingdom of Allah) từ ngày lập đạo tới nay có thể được chia ra làm hai thời kỳ:
- Thời kỳ I- từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 13: Đạo Hồi bành trướng và phát triển tạo thành một số quốc gia theo đạo Hồi, đứng đầu cộng đồng Hồi Giáo là một vị vua được gọi là Caliph, có nghĩa là “người kế vị giáo chủ Muhammad về phương diện thế quyền “. Xin ghi thêm ở đây là đạo Hồi tin giáo chủ Muhammad là thiên sứ cuối cùng của Allah cho nên không một ai có quyền tự xưng là kẻ thừa kế của Ngài về phương diện thần quyền.
- Thời kỳ II- từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 20: Do những biến cố đặc biệt của thế giới đã đưa đến sự hình thành ba đế quốc Hồi Giáo. Trước hết là sự xâm lăng của quân Mông Cổ chiếm các nước Trung Đông và sau đó chiếm các nước Bắc Ấn và nhiều nước Á Châu khác tạo thành một đế quốc Mông Cổ rộng lớn. Từ cuối thế kỷ 13, nhiều hoàng đế Mông Cổ theo đạo Hồi đã tạo nên đế quốc Hồi Giáo Mughul (do chữ Mongol mà ra). Trong thế kỷ 15, tại Âu Châu, người Thổ Nhĩ Kỳ Hồi Giáo chế ra thuốc súng và lập ra binh chủng pháo binh đầu tiên trên thế giới. Dựa vào sức mạnh quân sự, người Thổ Hồi Giáo xua quân đánh chiếm nhiều nước trên cả 3 lục địa Âu, Á, Phi và lập nên đế quốc Ottoman. Cuối cùng, dân tộc Azerbaizan ở tây nam biển Caspian bỗng nhiên trở nên hùng mạnh vào đầu thế kỷ 16, cất quân đánh chiếm nhiều nước Âu Châu và Trung Đông tạo thành đế quốc Safavids theo giáo phái Shiite.
I. THỜI KỲ CAI TRỊ CỦA CÁC CALIPHS (The Caliphate Rulers)
Bốn người kế vị đầu tiên của Muhammad (632-661):
Danh từ Hồi Giáo Ả Rập gọi chung cả bốn vị thừa kế đầu tiên của giáo chủ Muhammad là RASHIDUN – Họ được coi là 4 trụ cột của Hồi Giáo trong thời kỳ sơ khai. Họ đã lần lượt thay thế nhau trong 29 năm kể từ khi Muhammad qua đời, nhưng những việc làm của họ đã có những ảnh hưởng hết sức lớn lao cho sự tồn vong của đạo Hồi. Bốn vị đó là : Abu Bakr, Umar Khattab, Uthman Affan và Ali Talib.
1. Abu Bakr (632-634). Sau khi Muhammad qua đời, cộng đồng Hồi Giáo non trẻ lâm vào tình trạng hỗn loạn vì không có lãnh đạo. Không một ai được đa số tín đồ Hồi Giáo tín nhiệm bầu lên làm nguời kế vị Muhammad. Trước tình thế bế tắc đó, Abu Bakr tự động đứng lên dành quyền lãnh đạo. Ông là một thương gia giàu có và có uy tín bậc nhất ở Mecca. Ông đã nghiêm khắc ra 2 lệnh cấm khẩn cấp để bảo vệ đạo Hồi và cộng đồng Hồi Giáo:
- Tuyệt đối cấm không một tín đồ nào được rời bỏ cộng đồng Hồi Giáo (Islamic confederacy)
- Không một ai được tự xưng là tiên tri vì Muhammad là vị tiên tri cuối cùng của Thiên Chúa trên thế gian này.
Abu Bakr đã mau chóng phá tan các âm mưu chia rẽ cộng đồng Hồi Giáo và chỉ sau 2 năm, toàn bán đảo Ả Rập đã theo đạo Hồi. Bán đảo Ả Rập rất rộng lớn, (gấp 8 lần diện tích Việt Nam) hiện được chia thành nhiều quốc gia độc lập: Saudi Arabia, Yemen, Quatar, Omar và Emerite.
2. Umar Khattab (634-644). Sau khi Abu Bakr qua đời, Umar được bầu làm người kế vị (Caliph) cai quản cả một cộng đồng Hồi Giáo rộng lớn trên toàn bán đảo Ả Rập.
Umar là một thiên tài quân sự kiệt xuất trong lịch sử Hồi Giáo. Ông đã ban hành trên toàn lãnh thổ Ả Rập những biện pháp sau đây:
- Để bảo toàn lực lượng Hồi Giáo, các bộ lạc trong Cộng đồng đạo Hồi tuyệt đối không được đánh nhau.
- Mọi người nam giới trong các bộ lạc trên lãnh thổ bán đảo Ả Rập đều là các binh sĩ, tất cả đều được huấn luyện quân sự và được sắp xếp thành các đơn vị quân đội. Umar tự xưng là “Tư lệnh của các tín đồ” (The commander of the faithful). Sau hai năm huấn luyện các binh sĩ và trang bị vũ khí đầy đủ, Umar bắt đầu mở mang nước Chúa bằng sức mạnh quân sự:
* Năm 636, Umar đích thân chỉ huy quân Hồi Giáo chiếm Iraq và Syria.
* Năm 637, Umar chiếm toàn lãnh thổ của đế quốc Sassanian (Ba Tư) và chiếm thành phố lớn nhất của đế quốc Byzantine là Anatolia.
* Năm 638, Umar xua quân chiếm Palestine và thánh địa Jerusalem.
* Năm 641, Umar chiếm toàn bộ các nước Bắc Phi gồm Ai Cập, Algeria, Tunisa và Maroc.
Một điều đáng chú ý là những đoàn quân Hồi Giáo đã tiến chiếm những vùng đất xa xôi thuộc nhiều hướng khác nhau nhưng vị chỉ huy tối cao là Umar vẫn đặt bản doanh ở Medina, một ốc đảo trong sa mạc Syro – Arabia. Ông chỉ huy các đoàn quân Hồi Giáo trên những sa bàn và những bản đồ tại văn phòng của ông. Dưới sự lãnh đạo kiệt xuất của Umar trong 10 năm, Hồi Giáo từ một giáo phái nhỏ ở sa mạc đã biến thành một đế quốc rộng lớn. Các tín đồ Hồi Giáo cho đó là một phép lạ của Allah, trong khi Âu Châu bắt đầu cảm thấy e ngại trước sự lớn mạnh của một tôn giáo mới.
Họ gọi đạo Hồi là “đức tin của bạo lực” (A violent faith) hoặc là một “tôn giáo quân phiệt” (a militaristic religion). Vào một ngày định mệnh trong tháng 11 năm 644, trong khi Umar đang cầu nguyện trong đền thờ tại Medina thì bị một tù binh người Ba Tư đâm chết.
3. Uthman (644-656). Uthman là cánh tay mặt và phục vụ dưới trướng của Umar 10 năm. Uthman đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm về tài thao lược quân sự của người tiền nhiệm. Vào lúc nầy, Hồi Giáo là một quyền lực quân sự lớn ở trong vùng vì họ đã tịch thu được rất nhiều chiến lợi phẩm quân sự và tích lũy được rất nhiều tài nguyên kinh tế dự trữ tại các vùng chiếm đóng. Dưới sự lãnh đạo tài ba của Uthman trong 12 năm, quân Hồi đã lập nên nhiều kỳ tích chưa từng thấy:
- Trước hết, quân Hồi chiếm Hy Lạp và nhiều nước phía đông Địa Trung Hải.
- Mấy năm sau, một cánh quân tiến về phía Tây chiếm Libya.
- Một cánh quân khác tiến về phía đông chiếm nước Âu Châu Armenia, tiến vào miền Caucase của Nga. Trong khi đó một cánh quân khác tràn xuống phía nam đánh chiếm Bắc Ấn Độ (tức Afganistan và Pakistan ngày nay).
Tới lúc này, Hồi Giáo đã thành một đế quốc mênh mông kéo dài từ Âu sang Á tới Bắc Phi. Những quân lính Ả Rập Hồi Giáo hầu hết đều đã xa nhà trên 10 năm, phần đông đều cảm thấy chán nản. Nhiều tướng lãnh Hồi Giáo xa chủ tướng đã quá lâu nên cũng mất đi tình thân ban đầu.
Năm 656, một nhóm tướng và binh sĩ bất mãn đã bất thần trở về Medina vây bắt và giết chết Uthman tại chỗ. Nhóm này đưa Ali Talib lên làm vị Caliph thứ tư của Hồi Giáo.
4. Ali Talib (656-662). Vụ sát hại Uthman để đưa Ali lên thay là một biến cố vô cùng tai hại cho Hồi Giáo trong suốt nhiều thế kỷ qua và có thể còn kéo dài mãi mãi về sau. Ali là em họ và đồng thời là con rể của Muhammad. Khi vừa được bầu lên làm Caliph, Ali đã gặp phải sự chống đối của Muawiyah là người nhà của Uthman. Muawiyah lúc đó là quan toàn quyền Hồi Giáo cai trị Syria lên tiếng chỉ trích Ali đã không trừng phạt kẻ sát hại Uthman. Ali mang quân đến đánh Muawiyah nhưng hai bên đánh nhau khá lâu không phân thắng bại nên phải ngưng chiến. Năm 662, Ali bị ám sát chết. Muawiyah tự cho mình là người đang nắm quyền lực quân sự mạnh nhất nên tự xưng là Caliph lãnh đạo cộng đồng Hồi Giáo. Y tự ý dời thủ đô Hồi Giáo từ Medina về Damacus lúc đó là thủ đô của Syria. Muawiyah mở đầu cho một triều đại Hồi Giáo kéo dài tới 6 thế kỷ. Đó là triều đại Umayyad (Umayyad Dynasty) gồm những vị vua cai trị các nước Hồi Giáo, tất cả đều tự xưng là Caliph (661-1250). Do đó, tất cả các vua Hồi Giáo thuộc triều đại Umayyad đều được gọi chung là “Caliphate Rulers”, có nghĩa là các nhà lãnh đạo cộng đồng với tư cách là người kế vị Muhammad.
Riêng cá nhân Muawiyah cai trị toàn bộ cộng đồng Hồi Giáo rộng lớn trong 19 năm. Ông biến những người theo ông thành một giai cấp quí tộc mới, nói đúng hơn là một giai cấp thống trị (a ruling class). Chủ thuyết của Muawiyah là cai trị dân bằng sức mạnh quân sự (military aristocracy). Muawiyah chết vì bệnh năm 680.
Trong thời gian đó, những người Hồi Giáo thân Ali đã lập ra một giáo phái mới là giáo phái Shiite. Số tín đồ Hồi Giáo còn lại được gọi chung là Sunni, có nghĩa là Đa số. Năm 680, vua Yazid (con của Muawiyah) đến Medina chặn bắt con trai của Ali là Husayn và giết nhiều người thuộc giáo phái Shiite. Năm sau (681), Yazid mang quân trở lại Medina (nơi ở cuối cùng của Muhammad) tàn phá và dìm thành phố thánh địa này trong biển máu. Để trả thù, giáo phái Shiite mang quân chiếm thánh địaMecca và tàn phá nặng nề thành phố này. Từ đó đến nay, trải qua trên 13 thế kỷ, hai giáo phái Sunni và Shiite thường xuyên xung đột nhau nhiều trận đẫm máu. Số người tử trận cả hai bên có thể lên tới nhiều chục triệu người. Đây là một thảm họa lớn nhất trong lịch sử thế giới Hồi Giáo.
II. THỜI KỲ CỦA NHỮNG ĐẾ QUỐC HỒI GIÁO – TỪ THẾ KỶ 13 ĐẾN THẾ KỶ 20.
1. Đế Quốc Mughul :
Mughul là tiếng phiên âm Ả Rập để gọi người Mông Cổ (Mongol). Người sáng lập đế quốc Mông Cổ là Thành Cát Tư Hãn (Genghis Khan 1162-1227). Thoạt đầu ông thống nhất các bộ lạc du mục Mông Cổ vốn có tài cưỡi ngựa và bắn cung. Sau đó ông huấn luyện và tổ chức họ thành quân ngũ và biến họ thành những đoàn kỵ binh bách chiến bách thắng. Với đoàn quân hùng mạnh này, Thành Cát Tư Hãn đã lần lượt đánh chiếm nhiều nước từ Á sang Âu tới tận Trung Đông và Phi Châu. Luật tác chiến rất nổi tiếng của Thành Cát Tư Hãn là : Hễ tới nơi nào ngoan ngoãn đầu hàng thì tha, bất cứ một thành phố hay làng mạc nào chống cự đều bị phá bình địa và tất cả mọi người dân không kể già trẻ lớn bé đều phải chết!
- Năm 1219, quân Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn đánh chiếm Thổ Nhĩ Kỳ. Vua Thổ cùng đoàn tùy tùng bỏ chạy bị quân Mông Cổ truy kích qua Iran tới tận Azerbaizan thì bị bắt. Quân Mông Cổ tới đâu đều để lại phía sau sự đổ nát hoang tàn.
- Năm 1231, hàng loạt các thành phố nổi tiếng của Hồi Giáo như Baghdad, Bukhara, Damacus… đều bị đốt phá bình địa với những xác chết la liệt trên đường phố. Dân chúng sợ hãi lũ lượt kéo nhau chạy qua các nước lân cận.
- Năm 1255, Mông Cổ hoàn thành một đế quốc rộng lớn bao la bao gồm Trung Quốc, Cao Ly, Ngoại Mông, hàng chục nước Trung Á và Bắc Ấn Độ, Syria, Palestine, Thổ Nhĩ Kỳ.
Nhưng một biến cố quan trọng đã xảy ra cho cả Hồi Giáo lẫn Mông Cổ, đó là vào năm 1295, hoàng đế Mông Cổ Ghazan Khan theo đạo Hồi thuộc giáo phái Sunni. Từ đó về sau, các hoàng đế Mông Cổ đều theo đạo Hồi. Càng về sau, các quan và cả triều đình Mông Cổ trong đế quốc đều thành những tín đồ Hồi Giáo thành tín. Các học sĩ Hồi Giáo Ả Rập (Ulama) được trọng dụng, nhất là trong việc soạn thảo các bộ luật hình sự và dân sự phỏng theo luật Hồi Giáo Sharia.
Hoàng đế Mông Cổ Timur Lenk đóng đô tại Thổ Nhĩ Kỳ xua quân đánh chiếm Iran năm 1387, chiếm hải cảng Golden Horde của Nga năm 1395, chiếm Ấn Độ năm 1398, tàn phá thủ đô New Delhi và giết hàng chục ngàn tù binh Hindu tại đây. Năm 1400,Timur chiếm hai nước Iran và Iraq. Tại đây, Timur ra lệnh tàn sát hàng triệu người thuộc giáo phái Shiite. Vì quá say máu chiến thắng, năm 1404, Timur kéo quân ngược về phía Trung Á rồi vượt biên giới tiến đánh vào phía Tây Trung Quốc. Cuộc chiến kéo dài qua năm sau, Trung Quốc phản công giết quân Mông Cổ rất nhiều và bản thân Timur cũng bị tử trận trong năm 1405.
Những hoàng đế Mông Cổ kế tiếp chú trọng việc mở rộng đế quốc ở Châu Á:
- Năm 1478, đế quốc Mughul chiếm Indonesia và biến nước này thành nước Hồi Giáo. Ngày nay, Indonesia là một nước đông dân nhất của thế giới đạo Hồi với trên 200 triệu dân.
- Từ 1520 đến 1837, đế quốc Mughul cai trị toàn Ấn Độ. (Ấn Độ mang tên Mughul Empire of India). Hoàng đế Mông Cổ đóng đô tại New Delhi. Năm 1643, hoàng đế Mông Cổ cho xây ngôi mộ của hoàng hậu ở ngoại ô New Delhi rất nổi tiếng, đó là ngôi mộ Taj Mahal..
- Năm 1747, đế quốc Mughul chiếm Afganistan và cai trị nước này 100 năm.
Năm 1831, người Anh chiếm Ấn Độ và chấm dứt đế quốc Mughul trên lục địa Châu Á.
2. Đế quốc Ottoman (1289-1924)
Danh từ Ottoman xuất phát từ tên của một bộ lạc du mục là OSMAN ở phía tây Thổ Nhĩ Kỳ. Bộ lạc này bắt đầu khởi binh từ năm 1280. Chỉ trong 9 năm, họ chiếm một vùng lãnh thổ rộng lớn gồm có Tây Nam Á Châu, Đông Nam Âu Châu và Đông Bắc Phi Châu. Họ gọi đế quốc của họ là OTTOMAN. Những người lãnh đạo đế quốc này đều theo đạo Hồi thuộc giáo phái Sunni.Họ chẳng những nổi tiếng về tài năng thao lược quân sự mà còn nổi tiếng về khả năng chính trị rất khéo léo của họ. Nhờ vậy, đế quốc Ottoman đã tồn tại qua 7 thế kỷ.
- Năm 1389, quân Ottoman chiếm Albania và Kosovo, biến vùng này thành những nước theo Hồi Giáo.
- Năm 1444, quân Ottoman đánh tan Thập Tự Quân của giáo hoàng La Mã tại Bulgaria.
- Tháng 4.1453, quân Hồi Giáo Ottoman xóa sổ đế quốc Byzantine, tức đế quốc Ki Tô Giáo Đông Phương và chiếm thủ đô của đế quốc này là thành phố Constantinople. Điểm son của Ottoman là sau khi chiếm Constantinople và nhiều lãnh thổ của Byzantine, Ottoman công bố chính sách khoan dung tôn giáo đối với Do Thái Giáo và Ki Tô Giáo. Nhờ vậy, trong nhiều thế kỷ sau, Ottoman đã mở rộng thương mại với các nước Âu Châu Ki Tô Giáo và trong lãnh thổ đế quốc không có một cuộc nổi loạn nào. Tuy nhiên, đối với giáo phái Shiite, Ottoman có một chính sách quyết liệt không khoan nhượng.
- Năm 1467, Ottoman công bố thánh chiến với giáo phái Shiite, các tín đồ Shiite trong đế quốc bị lùng giết.
- Từ 1467 đến 1520, quân Ottoman tiến chiếm Syria, Ai Cập, Bắc Phi và toàn bán đảo Arabia.
- Từ 1520 đến 1534, quân Ottoman chiếm Nam Tư và một phần Âu Châu tới thủ đô Vienne của Áo.
- Năm 1606, Ottoman chiếm Romania, Hungaria, Ba Lan và Tiệp Khắc. Tới lúc này, đế quốc Ottoman trở thành siêu cường quốc tế (World Power).
Từ đầu thế kỷ 19, các cường quốc Âu Châu (Anh, Pháp, Đức) bắt đầu xâm chiếm các phần đất của Ottoman và dồn đế quốc này vào chỗ suy tàn.
3. Đế quốc Safavids của giáo phái Shiite (1501-1779)
Thoạt đầu Safavids là một nhánh của giáo phái Shiite xuất phát tại nước Azerbaizan ở tây nam biển Caspian.
Năm 1501, lãnh tụ của giáo phái Safavids là Esmail khởi binh chiếm luôn cả nước Azerbaizan. Esmail tự xưng là “Vua Hồi Giáo” (Sha/Sultan) và ra lệnh cho toàn dân phải theo đạo Hồi (giáo phái Shiite). Ít lâu sau, Esmail xua quân đánh chiếm các nước lân cận theo Chính Thống Giáo là Armenia, Georgia và vùng núi Caucase của Nga. Trong thời gian chiếm đóng, quân Hồi Safavids đã giết hại rất nhiều người Chính Thống Giáo. Riêng tại Armenia, số tín đồ Chính Thống Giáo bị giết lên tới một triệu người. Sau đó quân Safavids chuyển qua phía đông tấn công thành phố Anatolia để dằn mặt đế quốc Ottoman theo giáo phái Sunni. Trong khi đó, một nhóm khác thuộc giáo phái Shiite ở Ba Tư nỗi lên cướp chính quyền của giáo phái Sunni. Nhóm nổi loạn ra lệnh cho cả nước Ba Tư phải theo Shiite, ai bất tuân lệnh đều bị giết. Tất cả các học sĩ (Ulamas) lãnh đạo giáo phái Sunni đều bị chém đầu, không sót một ai. Kể từ đó, nước Ba Tư (Iran) trở thành một quốc gia toàn tòng theo giáo phái Shiite. Các vua Hồi Giáo Ba Tư được gọi là SHA, vừa là vua vừa là giáo chủ, phần đông đều cực đoan và hung dữ.
Phần đông các học sĩ Hồi Giáo Ba Tư đều theo môn phái triết học thần bí (mystical philosophy) tóm tắt như sau: “Chính trị và tôn giáo là một, không thể tách rời. Mọi cải cách xã hội không thể vượt quá tư tưởng tôn giáo”.
Với bản chất cuồng tín cực đoan cố hữu của giáo phái Shiite, nay lại có thêm chủ thuyết thần bí của các Mullahs (học sĩ) giáo phái Shiite càng ngày càng trở nên cực đoan nguy hiểm. Họ luôn luôn có thái độ bất khoan dung với các tôn giáo khác, nhất là đối với giáo phái Hồi Giáo Sunni, chiếm 80% dân số đạo Hồi.
* * *
Như đã trình bày trên đây, từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 20, trong thế giới Hồi Giáo đã xuất hiện ba đế quốc riêng biệt và luôn tranh chấp với nhau. Cả ba đế quốc Hồi Giáo đã được thành lập và suy tàn vào những thời điểm khác nhau:
- Đế quốc Mughul thành lập đầu thế kỷ 13, suy tàn cuối thế kỷ 19.
– Đế quốc Ottoman thành lập cuối thế kỷ 13, suy tàn đầu thế kỷ 20.
– Đế quốc Safavids thành lập đầu thế kỷ 16, suy tàn trong thế kỷ 18.
Như vậy, hai đế quốc Hồi Giáo lớn mạnh nhất là Ottoman và Mughul đã cùng tồn tại song hành và chia nhau thống trị thế giới Hồi Giáo bao la trong 7 thế kỷ. Ít nhất là trong 200 năm, từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18, cả ba đế quốc Mughul, Ottoman và Safavids cùng tồn tại trong thế giới đạo Hồi (The Islamic World).
Từ thế kỷ 18 trở đi, các nước Âu Châu trở nên hùng cường mọi mặt đã đẩy lùi các đế quốc Hồi Giáo đến chỗ suy tàn. Khởi đầu là nước Nga đánh tan quân Ottoman ở vùng Biển Đen năm 1774, chiếm lại Armenia và vùng núi Caucase. Năm 1792, Nga chiếm Georgia và Romania từ tay Ottoman.
Đầu thế kỷ 19, Nga chiếm toàn bộ miền Trung Á gồm nhiều nước theo đạo Hồi thuộc đế quốc Mughul. (Sau Cuộc Cách Mạng Tháng Mười Nga năm 1917, các nước Hồi Giáo Trung Á đều biến thành các tiểu bang thuộc Liên Bang Xô Viết).
- Cũng trong đầu thế kỷ 19, Hòa Lan chiếm Indonesia và Mã Lai. Anh chiếm Ấn Độ bao gồm cả một tiểu lục địa (sau 1947, Ấn Độ bị chia thành nhiều nước: Pakistan, Bangladesh, Tích Lan và Ấn Độ).
- Cuối thế kỷ 19, Anh chiếm Ai Cập và Sudan. Pháp chiếm Algeria, Tunisia và Maroc.
- Đầu thế kỷ 20, Ý chiếm Lybia. Anh và Pháp chiếm Palestine, Jordan, Iraq, Syria và Liban.
Tóm lại, từ đầu thế kỷ 20, chỉ ngoại trừ một nước duy nhất là Thổ Nhĩ Kỳ, còn lại toàn bộ thế giới Hồi Giáo đều trở thành những thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Âu Châu.
Lịch sử bành trướng và phát triển của đạo Hồi luôn luôn gắn liền với chiến tranh và bạo lực. Vì thế đạo Hồi nổi tiếng là “tôn giáo của lưỡi gươm” (Religion of Sword) hoặc “tôn giáo quân phiệt” (Militaristic Religion). Kinh Thánh Koran của Hồi Giáo được gọi là “Cuốn sách của tử thần” (The Book of Death) và đức tin Hồi Giáo là: “đức tin hung bạo” (a violent faith). Trong hơn một thế kỷ qua, thế giới Hồi Giáo đã bị Tây Phuơng dồn vào thế suy kiệt mọi mặt. Họ không còn con đường nào khác hơn là thực hiện chủ nghĩa khủng bố. Về hình thức thì ngày nay chiến tranh có khác với ngày xưa, nhưng về thực chất thì chủ nghĩa khủng bố cũng là một hình thái của chiến tranh và bạo lực. Chỉ khác một điều: chủ nghĩa khủng bố là hình thái chiến tranh của những kẻ đã bị dồn vào thế yếu nhưng buộc phải chiến đấu với kẻ thù lớn mạnh hơn mình để tồn tại.
Nhìn về tương lai, chúng ta khó đoán được cuộc chiến tranh khủng bố sẽ đưa nhân loại đi về đâu, nhưng nhìn về quá khứ chúng ta phải công nhận sức mạnh của Hồi Giáo đã tạo nên nhiều thành tích quan trọng:
- Trong thế kỷ 7, Hồi Giáo Ả Rập tiêu diệt đế quốc Sassanian đã từng làm mưa làm gió ở Trung Đông trong 10 thế kỷ trước đó.
- Trong thế kỷ 15, Hồi Giáo Thổ Nhĩ Kỳ tiêu diệt đế quốc Ki Tô Giáo Byzantine (hậu thân của đế quốc La Mã) chặn đứng sự bành trướng của Ki Tô Giáo xuống bán đảo Ả Rập và Trung Đông.
Sưu tầm

05/02/2015

Xuân này con không về...

Con biết bây giờ mẹ chờ tin con,
Khi thấy mai đào nở vàng trên nương.
Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về...
Nay én bay đầy trước ngõ,
Mà tin con vẫn xa ngàn xa... 


Hai người phế binh VNCH đứng trước cửa quán và vừa bập bùng cây đàn ghita vừa gõ xập xòe vừa cất tiếng hát. Giọng hát thống thiết vang vang trong cảnh khách khứa ăn nhậu tưng bừng vô tâm, vô cảm với họ...
- Ôi, nhớ Xuân nào thuở trời yên vui
Nghe pháo giao thừa rộn ràng nơi nơi...
Bên mái tranh nghèo ngồi quanh bếp hồng,
Trông bánh chưng chờ trời sáng
Đỏ hây hây những đôi má đào...
Bài hát này tôi đã nghe hàng triệu lần. Tôi đã nghe qua radio, qua tivi, qua chương trình... tôi đã nghe các ca sĩ, cũ mới, nổi tiếng hay không nổi tiếng... Nhưng nó chỉ và luôn gây cho tôi những cảm xúc mãnh liệt khi nghe chính những người con thực sự, những người con đã không về với mẹ hiền em thơ trong một mùa Xuân khói lửa điêu linh trong bài hát này. Và họ như chìm đắm vào mùa Xuân hạnh phúc ngày xưa ấy khi cất tiếng hát trong lúc chung quanh đang rộn ràng sắc Xuân mới..
Nếu con không về chắc mẹ buồn lắm, 
Mai tranh nghèo không người sửa sang
Khu vườn thiếu hoa vàng mừng Xuân,
Đàn trẻ thơ chờ mong anh trai
Sẽ đem về cho tà áo mới,
Ba ngày Xuân đi khoe xóm giềng...
Hai người phế binh của một đội quân ngũ hào hùng một thuở nay không còn nữa. Hai người một mù dìu một không còn chân nữa say sưa hát với những gân cổ nổi phồng lên trên hai khuôn mặt phong trần chất chứa những năm tháng khổ ải nhục nhằn. Tiếng đàn bập bùng, chen lẫn tiếng xập xèng và hai giọng ca bè đưa đẩy giọng nam tình cảm thiết tha pha tiếng luyến láy đặc trưng rất độc, kiểu sến như tiếng Chế Linh, Duy Khánh ngày xưa và giờ là Quang Lê vậy. Và nó khiến cho người nghe như nghẹn ngào mặc dù đang hát về mùa Xuân...
Con biết không về mẹ chờ em trông,
Nhưng nếu con về bạn bè thương mong...
Bao lứa trai cùng chào Xuân chiến trường.
Không lẽ riêng mình êm ấm,
Mẹ ơi, con Xuân này vắng nhà...
Tất cả đã nhạt nhòa dần, nhạt nhòa dần. Chiến thắng rồi cũng dần quên, chiến bại nhớ lâu hơn rồi cũng dần quên...Chỉ còn những nỗi đau đau đáu giống nhau, của những người trai mặc quân phục nơi miền xa nhớ về một mùa Xuân thất hứa với mẹ hiền khi quê hương còn mịt mù khói lửa. Chỉ còn tiếng hát buồn tủi, đau lòng của các anh khiến tôi như muốn trào nước mắt, như nghe tiếng hót của loài chìm nhốt trong lồng cất tiếng hát đau đáu, khắc khoải mỗi Xuân về...
Thật hạnh phúc biết bao khi một ngày nào đó cả hai sắc lính đã từng không đội trời chung, những người lính đã từng vinh danh lá cờ vàng ba sọc đỏ, hay người lính vinh danh lá cờ đỏ sao vàng, cờ xanh đỏ sao vàng, những con người đã từng chém giết nhau thì nay lại cùng ở bên nhau để cùng cất cao tiếng hát gửi cho người mẹ khi mùa Xuân về trong cảnh bình an xứ sở...
Con hứa con sẽ trở về
Con hứa Xuân này sẽ về...
Vì suy cho cùng thì người mẹ đó chẳng phải là mẹ chung, Mẹ Việt Nam của chúng ta sao, và hai người lính đó chẳng phải là anh em chung một nòi giống, một dân tộc Việt Nam sao....

Mai Tú Ân

03/02/2015

Tại sao Hoàng Sa...

TRẢ LẠI CHO LỊCH SỬ NHỮNG GÌ CỦA LỊCH SỬ...

Tại sao có sự kiện Trung Cộng chiếm Hoàng Sa và giờ thì nghiễm nhiên coi đó là đất của họ. Ta sẽ trở lại bối cảnh lúc đó để xem xét sự kiện này...

https://1.bp.blogspot.com/-M6XgOv5Hx-k/VNCHpirm4ZI/AAAAAAAALak/9yabyTtDae0/s1600/10959339_541954225907880_177869507963280357_n.jpg


Đầu năm 1974, Hiệp định Paris (1973) đã ký và quân đội Mỹ đã rút ra khỏi miền Nam Việt Nam. Mỹ và Trung Cộng đã ngầm bắt tay nhau để mưu tính việc nhớn, bỏ chuyện Việt Nam lại cho các đàn em của mình tự giải quyết với nhau. Nhưng trong khi ông thầy Mỹ để đàn em là VNCH tự bươn chải một mình, và cũng có phần số xui xẻo khi Tổng Thống Mỹ R. Nichson phải từ chức vì vụ Wartergate thì VNDCCH lại được sự hỗ trợ hết mình về mọi mặt của đàn anh Trung Cộng.

Và thế là miền Bắc đã quyết định giải phóng miền Nam bằng vũ lực khi cơ hội đến. Tất cả nhân lực, tài lực đã được chuẩn bị sẵn sàng cho công cuộc vĩ đại này, nhưng có một vấn đề cốt tử mà Bắc Việt còn rất đắn đo chưa quyết, mà phải giải quyết vấn đề này thì họ mới đặt ra việc thực hiện quyết tâm giải phóng hoàn toàn Miền Nam trên. Đó là người Mỹ có quay trở lại không ? Người Mỹ, mà cụ thể là lực lượng quân sự hùng mạnh của họ có quay lại cứu đồng minh VNCH không khi Bắc Việt xé toang HĐ Paris để tấn công toàn diện và triệt để miền Nam hay không ? Hoặc ít ra là người Mỹ có cho lực lượng hải, không quân kinh khủng của họ trợ chiến cho miền Nam như trước hay không ? Vì cái tên pháo đài bay B.52 cứ hiện lên như một bóng đen hãi hùng ám ảnh Bộ TL Miền Bắc. Vì bài toán ấy đã có lời giải rõ ràng qua thực nghiệm chiến trận các năm 1968 – 1972. Nếu tấn công miền Nam, mà lực lượng này không có người Mỹ trợ giúp thì cơ hội của miền Băc là có thể thành công. Còn nếu lực lượng Miền Nam có Mỹ trợ giúp, dù chỉ cần bằng hỏa lực thôi, thì cơ hội ấy là bằng 0. 

Bắc Việt không cần học ở đâu ngoài học chính họ. Lịch sử cuộc chiến VN đã chỉ rõ các bài học đau thương đó. Năm Mậu Thân 1968, hiểu rằng không thể thôn tính được VNCH bằng các cuộc nổi dậy, hay du kích chiến mà chỉ có thể bằng tấn công tổng lực, lại ảo tưởng ngây thơ về sức mạnh quân sự của mình, cũng như đánh giá thấp đối thủ nên miền Bắc đã tung toàn lực để tấn công đồng loạt các đô thị  miền Nam trong khi lực lượng quân sự Mỹ còn dầy đặc ở khắp lãnh thổ. Và kết quả người Mỹ chỉ cần hỏa lực yểm trợ khủng khiếp của họ cùng với sức chiến đấu mạnh mẽ của miền Nam thì miền Bắc đã bị vỡ đầu năm đó với gần 100.000 chiến sĩ hy sinh oan uổn...

Không học được bài học lịch sử đó, lại chọn vào đúng năm bầu cử Tổng Thống Mỹ 1972, miền Bắc lại tiếp tục cuộc tổng tấn công mặt tiền hoành tráng, mặt đối mặt với VNCH ở miền Trung (trước đó có đánh nghi binh ở Tây Nguyên). Họ tấn công vượt sông Thạch Hãn, (chứ không vượt sông Bến Hải cũng nằm y chang và cũng ngay gần đó để tỏ ra là không "vi phạm" Hiệp Định Giơ ne vơ 1954) Và chiếm được Quảng Trị. VNCH sau đó đã bền bỉ phản công, với sự trợ chiến của các pháo đài bay B.52 ném bom không mệt mỏi thì cuối cùng TQLC của VNCH đã tái chiếm Thành Cổ Quảng Trị. Và chỉ riêng ở nơi này 10.000 chiến sĩ miền Bắc đã hy sinh trong mùa Hè đỏ lửa 1972.

Và BTTM Bắc Việt nhớ lại cùng với đợt ném bom kinh hồn của B.52 ra Hà Nội trong 12 ngày đêm cuối đông 1972 trước ngày ký HĐ Paris thì miền Bắc đã rút ra được bài học nhớ đời của mình. Đó là đừng mơ tới chiến thắng, nếu ông Kẹ hỏa lực Mỹ có cái tên B.52 ấy còn trợ giúp binh lực VNCH...Với những vết sẹo to tướng như thế thì hẳn là các ông tướng ở Nhà Rồng, HN (BTTM MB) vừa vạch kế hoạch giải phóng miền Nam năm 1975-76 vừa cầu trời được chiến đấu khi không bị B.52 Mỹ rải bom như rải cát xuống đầu.

Cần có một hành động quân sự vừa phải, không lớn không bé quá và một miếng mồi cũng ở tầm vừa phải không bé không lớn bất thình lình bị ngoạm mất mà đối phương không phản ứng hoặc phản ứng lấy lệ. Về mặt quốc tế thì việc cưỡng chiếm Hoàng Sa của Trung Cộng thì không thể nói gì hơn là một hành động xâm lược đối với VNCH, một quốc gia có chủ quyền. Đó là một hành động không thể chấp nhận được. Thế nhưng ỡm ờ trong "liên quân" đó có anh VNDCCH, không làm gì hết mà chỉ đứng tên cho có thêm số má. Có Bắc Việt đứng chung thì không thể nói rằng Trung Cộng xâm lược, người Mỹ cũng không thể lấy lý do đó để quay lại được. Chỉ có VNCH là gánh chịu một mình... 

Và đỉnh cao trí tuệ thời đó đã có một việc làm không biết khôn hay dại. Đó là nhờ ông anh Trung Cộng giúp đỡ với một phương pháp thử thăm dò. Một hay hai hành động quân sự để thăm dò Mỹ, xem Mỹ có còn vương tình quay lại với VNCH hay không. Và hai hòn đảo nhỏ bé và xa xôi nhưng là máu thịt của dân tộc Việt Nam là Hoàng Sa và Trường Sa đã bị dâng cho Trung Cộng trong phương pháp thăm dò đối phương đó. Tất nhiên là tạm thời thôi, vì với Tàu Cộng không có khái niệm cần mở cửa ra biển Đông làm gì vì tàu bè của TC lúc đó chạy ở sông còn không đủ lấy đâu mà ra biển lớn như bây chừ. Và theo kế hoạch đã được thỏa thuận giữa hai bên, Trung Cộng đã tấn công và chiếm Hoàng Sa tháng 1/1974 và cả Trung Cộng lẫn Bắc Việt đều nín thở chờ đợi phản ứng của Hoa Kỳ. Đúng như mong ước của BV, Mỹ đã không hành động gì, ngoài vài lời tuyên bố lên án. Thế là đủ hiểu. Bắc Việt giờ đây đã chuyên tâm dồn ý vào cuộc đối đầu sống mái với miền Nam mà không cần để ý nhiều về người Mỹ nữa. Họ đã không lên tiếng đúng, không trợ giúp đủ cho đàn em VNCH khi bị Trung Cộng cướp đất như thế thì không lẽ gì họ lại quay lại giúp VNCH cũng với lý do tương tự. Âu cũng là số mệnh vì không phải lúc nào người tốt cũng làm đúng hết. Chỉ có đến sau này, khi hậu quả thê thảm của một quốc gia mất tự do phơi bày ra thì họ mới thấy hối hận.

Rồi cùng với test thử nghiệm riêng của mình qua việc giải phóng tỉnh Phước Long vài tháng sau đó, thì Bắc Việt đã nhận được một tín hiệu không thể nào rõ ràng hơn. Đó là trong bất kỳ tình huống nào, người Mỹ và đặc biệt là con Ngáo Ộp, pháo đài bay B.52 sẽ không quay trở lại chiến trường. Và thực tế sau đó diễn ra đúng là như vậy.

Cuộc " Đại Thắng Mùa Xuân" năm 1975 đã diễn ra với không một quả bom đạn chính thức nào của Mỹ ném xuống chiến trường, đặc biệt là BV không phải vừa chiến đấu vừa ngóng lên trời để nhìn thấy những vệt dài khói dài đặc trưng của từng đoàn B.52 cùng với tiếng bom chùm rền vang như động đất như những năm trước. Thế rồi từng đoàn xe tăng, xe tải BV dài hàng cây số cứ nghênh ngang chạy trên các xa lộ rộng lớn của miền Nam để liên tục tiếp viện cho chiến trường. Và VNCH đành thúc thủ...

Nhưng BV còn một chút khôn ngoan khi nhận ra chân tướng ông anh lớn Tàu Cộng của mình, nên họ đã "qua mặt" ông anh để nhanh chân đánh chiếm đảo Trường Sa trước cả khi cả chiếm thủ đô Sài Gòn. Để đề phòng ông anh lớn thừa cơ lộn xộn làm luôn Trường Sa theo thỏa thuận trước đó là "thử nghiệm" cả cặp Hoàng Sa và Trường Sa,  hai hòn đảo đang thuộc về VNCH mà để đổi chác, VNDCCH cũng đã thừa nhận thuộc về Trung  Cộng từ trước đó rồi (Công hàm Phạm Văn Đồng 1958)

Và ở đời không có gì là cho không cả. Dâng gà cho cáo thì mất gà, ra mắt giới thiệu vợ đẹp cho Sở Khanh thì vợ vẫn còn nhưng bị Sở Khanh quất ngựa truy phong. Hoàng Sa mãi là vật thế chấp giữa hai ĐCS,  cho mưu đồ thâm hiểm của TC cũng như sự ấu trĩ, tham nhỏ để mất lớn của BVN. Thời gian lần trôi, vật đổi sao rời cùng với sự thay đổi từ anh em sống chết có nhau thành không đội trời chung với nhau, rồi lại thành đồng chí 4 tốt 16 chữ vàng, qua lại giữa bạn và thù đến chóng cả mặt thì rồi cuối cùng Trung Cộng đã lộ ra mặt là kẻ ăn cướp đảo Hoàng Sa của chúng ta. Vì lúc này với sự phát triển kinh tế mau lẹ thì con đường ra biển Đông của họ là cực kỳ cần thiết và lại đã có sẵn "của cống" tạm Hoàng Sa mà ông em tội nghiệp VN đã dâng hiến. Thế là nghiễm nhiên Trung Cộng coi Hoàng Sa trở thành đảo, thành đất chính thức của họ, đem lại mối hận thù muôn đời với chúng ta. Nhưng trách kẻ cướp 1 thì tự trách mình 10 khi đem dâng cho kẻ cướp cái thứ chúng muốn cướp.

Sự việc đơn giản như thế nhưng tại sao cả hai bên cứ úp úp mở mở giấu diếm mãi như thế. Trung Cộng thì giấu diếm vì đó là hành động giống như dụ trẻ con ăn cứt gà, lật lọng và là  hành động cướp nước. Còn Việt Nam thì giấu diếm vì đó là hành động bán nước.

Chỉ có dân tộc Việt Nam là đau và nhục mãi không thôi...

MTA



Je suis Charlie - Je suie Bọ Lập..