5/10/16

CHO NHỮNG NGƯỜI ĐÃ NẰM XUỐNG ( Nguyễn Gia Kiểng )


Việc bách hại người Công Giáo đã là một vết nhơ khó tẩy xóa trong lịch sử Việt nam. Đó là sự kiện chính nhà nước Việt nam, chứ không phải một đoàn quân xâm lược nào, đã tàn sát một số lớn những người Việt nam hoàn toàn vô tội. Thảm kịch còn lớn hơn nữa vì nhà nước đó biết họ vô tội nhưng vẫn giết họ.
Điều đáng ngạc nhiên là cho tới nay chưa có một chính quyền Việt nam nào, nhân danh sự liên tục của quốc gia, tổ chức một ngày để xin lỗi những người Công Giáo về sự sai lầm kinh khủng đó.
Phải chăng là vì các chính quyền không ý thức được cuộc sống liên tục của một quốc gia và do đó không cảm thấy có trách nhiệm về những gì những người cầm quyền trước mình đã làm? Hay vì một hành động long trọng như vậy sẽ không khỏi đặt ra những vấn đề lớn cho một chính quyền tự mình cũng cảm thấy tay có nhúng chàm? Chính quyền cộng sản hiện nay cũng đưa ra vô số biện pháp chèn ép các tôn giáo. Tài liệu “Quan điểm và cuộc sống” của Nguyễn Hộ, được phổ biến năm 1994, còn tố giác chính đảng cộng sản Việt nam đã tập trung những người theo đạo Cao Đài tại Củ Chi, tàn sát họ và chôn tập thể. Ông Nguyễn Hộ là tư lệnh phó quân đội cộng sản khu vực Sài Gòn bao gồm Củ Chi hồi năm 1946 lúc xảy ra vụ tàn sát này nên những điều ông nói ra chỉ có thể đúng sự thực.
Một điều cũng rất đáng ngạc nhiên là cho tới nay tập thể người Công Giáo chưa bao giờ chính thức đòi các chính quyền Việt nam phải giải oan, phục hồi danh dự và nhận lỗi với những nạn nhân. Họ tự thấy quá cô đơn, hay họ thấy không còn ràng buộc lắm với đất nước này nên không thấy cần phải đòi hỏi như vậy?
Nhưng đó là một việc phải làm và sẽ phải làm một cách rất long trọng. Mọi người đều hiểu như vậy, và vì không muốn làm hay không thể làm, nhiều người đã thoái thác bằng một thái độ cực kỳ tệ hại là tiếp tục bào chữa cho việc cấm đạo, tiếp tục bào chữa cho việc tàn sát người Công Giáo, tiếp tục bôi nhọ ký ức của những người đã chết oan và tiếp tục gây chia rẽ trầm trọng trong dân tộc. Thái độ thiếu lương thiện này lại gây ra một số nạn nhân khác: có những người nhẹ dạ đã thực sự bị lường gạt vì những luận diệu dối trá ấy và thực sự ghét người Công Giáo. Tôi đã từng được nghe nhắc lại không biết bao nhiêu lần là đạo Công Giáo do thực dân Pháp đem đến, trong khi sự thực là đạo Công Giáo đã được các giáo sĩ Tây Ban Nha và Hòa Lan truyền sang nước ta từ sau thế kỷ 16 trong khi người Pháp chỉ đến vào giữa thế kỷ 19, nghĩa là ba thế kỷ sau. Hơn nữa, tỷ lệ người Việt nam theo đạo Công Giáo vào cuối thế kỷ 17 trước khi có việc cấm đạo được ước lượng là xấp xỉ 10%. Sự xâm lăng và thống trị của người Pháp làm cho tỷ lệ người Việt nam theo đạo Công Giáo giảm đi chứ không tăng lên.
Năm 1989, khi vụ Phong Thánh cho 117 thánh tử đạo tại Việt nam đang sôi nổi, tòa báo Thông Luận chúng tôi nhận được một thư độc giả. Lá thư, bằng một giọng điệu hằn học và miệt thị, kể lại việc quân Pháp đánh thành phố Hải Dương, trong đó chỉ có 15 người lính Pháp và cả trăm người Công Giáo đi theo gánh gạo, vác đạn, v.v… Không một lời về việc bách hại hàng trăm ngàn người Công Giáo vô tội
Năm 1993, Câu Lạc Bộ Thân Hữu Thông Luận mời cụ Nguyễn Huy Bảo phát biểu trong một cuộc họp về đề tài “Dân Việt nam có thể có dân chủ được không?”. Đề tài đó không phải là tất cả buổi họp. Mỗi sinh hoạt của Câu Lạc Bộ Thân Hữu Thông Luận gồm ba phần. Phần đầu về kiểm điểm nội dung những số báo Thông Luận từ kỳ họp trước đến nay; phần thứ hai hoặc thảo luận về một đề tài hoặc thảo luận về một vấn đề chính trị có tính thời sự, phần thứ ba là sinh hoạt thân hữu, trong đó các thân hữu tự do trình bày những gì mình đã làm, những gì một thân hữu khác đã làm, những gì mình có ý định làm và tìm người hợp tác. Các thân hữu có xuất bản sách thường đem sách của mình tới giới thiệu và bán trong phần này. Bài thuyết trình của cụ Nguyễn Huy Bảo nằm trong phần thứ hai.
Cụ Bảo có đề cập tới chính sách thủ cựu của các vua quan nhà Nguyễn, trong đó có việc cấm đạo, như là những sai lầm đã khiến Việt nam lỡ mất một cơ hội canh tân với hậu quả tai hại. Chằng có gì là quá khích và lố lăng trong bài thuyết trình. Nhưng như thế cũng đã đủ để ngay khi cụ vừa dứt lời, một thanh niên vẫn thường hay lui tới câu lạc bộ đùng đùng nỗi giận đứng lên bất chấp cả chủ tọa to tiếng mạt sát cụ Bảo bằng những lời lẽ nặng nề, bất chấp cả tinh thần trang trọng của buổi họp, bất chấp cả sự kính trọng tối thiểu mà lễ giáo Việt nam vẫn dành cho người lớn tuổi (cụ Bảo lúc đó đã 85 tuổi). Những công thức chế tạo sẵn đua nhau tuôn chảy: “Ông là một sản phẩm của thực dân Pháp”, “Bài thuyết trình của ông là của một con người đã chối bỏ tổ tiên…”, “Ông lập lại những luận điệu phản quốc, những lập luận của bọn giáo sĩ cướp nước”, v.v…
Tôi làm chủ tọa buổi họp hôm đó và tôi đã phải quả quyết cắt lời anh ta. Anh ta biết tôi và vẫn dành cho tôi một sự kính trọng nào đó không biết sự kính trọng đó bây giờ còn hay không vì sau đó không thấy anh ấy lui tới câu lạc bộ nữa. Tôi ôn tồn nói với anh ta là không có ý kiến nào cấm nêu ra và không có đề tài nào cấm bàn đến, anh ta đừng sợ sẽ không được phát biểu hết ý kiến của mình, nhưng phải tôn trọng chủ tọa và cũng phải tôn trọng tinh thần thảo luận của câu lạc bộ là mọi trao đỏi phải có sự tương kính. Rồi tôi lại trao lời cho anh nói tiếp. Có lẽ tự thấy mình đã quá lời, anh ta xin lỗi vì đã dùng lời lẽ quá nặng nhưng giải thích: “Xin quí vị thông cảm cho, vì dân tộc tôi đã đau khổ quá nhiều vì bọn giáo sĩ tới làm do thám cho thực dân cướp nước, vì những tên Việt gian bỏ đất nước đi theo bọn giáo sĩ. Tôi phải tố cáo bọn giáo sĩ, tố cáo mưu đồ cướp nước của Vatican….” Lời xin lỗi đồng thời cũng là một lời thóa mạ.
Sau buổi họp, ra ngoài gặp tôi, anh ta vẫn còn hậm hực: “Tôi phải vạch mặt lên này (cụ Bảo), hắn là một tên giáo sĩ”. “Giáo sĩ” đối với anh ta là một từ ngữ rất nặng, tự nó đã có tính mạt sát rồi.
Tôi không giận anh ta, vì cái tập quán thù ghét thậm tệ người khác dựa trên những sự kiện mà chỉ cần bình tĩnh một chút cũng đủ thấy là rất sai là một đặc tính của người Việt nam. Tôi vẫn có cảm tình với anh ta. Xuất thân là một người lao động vượt biên sang Pháp, ngoài việc làm ăn anh ta còn dành rất nhiều thì giờ để học hỏi. Anh ta đọc rất nhiều sách và tỏ ra có quan tâm với tương lai đất nước. Càng có cảm tình với anh bao nhiêu tôi càng giận những người trí thức thiếu lương thiện đã đầu độc những tâm hồn nhẹ dạ. Anh ta có kể cho tôi nghe một số sách mà tôi có đọc qua.
Đó là những cuốn sách viết úp úp mở mở, gom lọc tài liệu với dụng ý rõ rệt là tạo cho độc giả một ngờ vực rằng việc truyền bá đạo Công Giáo ở Việt nam nằm trong âm mưu thôn tính Việt nam của Pháp. Tôi không thể nhìn thấy một sự xứng đáng nào trong những cố gắng đó. Chúng chỉ tố giác sự thấp kém của các tác giả. Họ hận thù vì thành kiến, rồi chính hận thù làm cho tâm hồn họ bị vẩn đục và trí tuệ họ bị mê muội. Với thời giờ bỏ ra nghiên cứu như vậy, nếu đừng để cho hận thù làm mù quáng đi, họ đã thấy là không làm gì có một âm mưu thôn tính Việt nam, chưa nói tới một âm mưu với sự đồng lõa giữa Vatican và chính quyền Pháp. Mà tại sao Vatican lại đồng loã với Pháp mà không đồng lõa với ý, Bò Đào Nha hay Tây Ban Nha? Những ai nghiên cứu phong trào thực dân trong ba thế kỷ 17, 18 và 19 đều biết rằng phong trào này chủ yếu là do các công ty tư nhân đi tìm lợi nhuận. Không làm gì có một ý chí chính trị của các nước châu Âu nói chung và Pháp nói riêng để chiếm đóng các nước châu á cả (trong một bài sau chúng ta sẽ bàn kỹ hơn về vấn đề này). Chính quyền Pháp đã bị đẩy tới chỗ phải can thiệp vào Việt nam dưới áp lực của dân chúng sau khi những đợt bách hại người Công Giáo gây ra xúc động quá lớn.
Tôi càng không hiểu tại sao, trong lúc này và tại hải ngoại, vẫn có những người cố gắng bôi nhọ người Công Giáo bằng những tài liệu xuyên tạc hạ cấp kiểu Tây Dương Gia Tô Bí Lục. Đề làm gì? Đáng buồn nhất là một số người lại còn gần liền sự phát triển của Phật Giáo với sự bài xích Thiên Chúa Giáo. Phật Giáo Việt nam không mạnh thêm, mà còn có thể bị hoen ố đi vì những “Phật tử” như thế.
Lý do chính khiến cho vết thương cấm đạo vẫn còn rưóm máu cho tới nay là vì chúng ta vẫn chưa tìm được cách đọc lịch sử. Điều đau nhức nhất trong thảm kịch cấm đạo là có những người Việt nam thực sự yêu nước, thực sự dũng cảm đã tham gia tích cực vào việc tàn sát và nhục mạ những người Công Giáo vô tội. Tôi muốn nói tới những phong trào Văn Thân và Cần Vương. Chắc chắn là trong động cơ thúc đẫy họ có lòng yêu nước, nhưng sự cuồng tín tôn thờ Nho Giáo của họ còn mạnh hơn. Họ đã giết người Công Giáo bởi vì họ thực sự tin rằng người Công Giáo đã bỏ đạo lý của ông cha, đi tôn thờ một tà đạo của người phương Tây mà lúc đó họ gọi là bọn quỷ trắng. Một người Việt nam đã theo đạo Công Giáo thì không còn là đồng bào của họ nữa, mà chỉ còn là một tâm hồn đã bị quỷ ám cần phải tiêu diệt. Các phong trào Cần Vương và Văn Thân có lẽ đã chỉ giết vài người lính Pháp, nhưng họ đã giết hại hàng chục ngàn tinh mục và giáo dân Việt nam. Họ mù quáng, thiển cận, có tội lớn mà không có công nào. Họ chỉ cố gắng bảo vệ một cái quá khứ hủ lậu cần phải vất bỏ đi: Nhưng họ là những người có chí khí, có can đảm. Họ nằm trong truyền thống của đất nước và của ông cha, nên chúng ta chỉ có thể buồn vì sự mù quáng của họ, chứ không thể ghét họ được. Do đó chúng ta bối rối, rồi để có thể tôn vinh họ, chúng ta biện hộ cho việc họ làm, đỗ tội cho những người Công Giáo vô tội đã nằm xuống.
Đó cũng là vì ta không biết đọc lịch sử. Đó cũng là vì ta không tìm ra được cách nào để yêu quí tổ tiên của ta. Đinh Tiên Hoàng, Lý Công Uẩn, Trần Hưng Đạo, Mạc Đăng Dung, Lê Chiêu Thống, Nguyễn Huệ, Nguyễn ánh, Văn Thân và Cần Vương, và cả những người Công Giáo đã nằm xuống; những anh hùng lập quốc cùng những người đã có tội, những người can đảm cũng như những người hèn nhát, tất cả đều là tổ tiên của ta. Chúng ta không chối bỏ được gia phả. Những người đã có tấm lòng như Văn Thân và Cằn Vương, chúng ta vẫn có thể quí mến họ, nhưng khi họ nhảm nhí thì phải nói là họ nhảm nhí, chứ sao lại đổi trắng thay đen? Đâu phải vì chúng ta quí trọng những người Cần Vương, Văn Thân mà nhất định chúng ta phải quí trọng ngay cả những sai quấy của họ và thù ghét những người Công Giáo mà họ đã thù ghét? Nhất là họ thù ghét một cách xằng bậy và hành động một cách càn dỡ?
Nguyễn Khắc Viện, một trí thức cộng sản đã đóng góp nhiều nghiên cứu có giá trị, đã viết về vụ phong Thánh như sau: “Dầu sao thì chúng tôi cũng không thể chối bỏ các vị tiền bối Văn Thân của chúng tôi”. Ông ta cũng đặt nghi vấn là có sự liên kết của người Công Giáo với quân Pháp. Hai chữ “dầu sao” nói lên bối rối của ông ta. Nhưng ông Nguyễn Khắc Viện làm tôi thất vọng về sự tầm thường của một trí thức như ông. Ai bắt ông phải chối bỏ các vị Cần Vương và Văn Thân? Tại sao lại phải chối bỏ? Có phải vì họ đã mù quáng giết người Công Giáo mà chúng ta phải chối bỏ họ không? Có phải khi ông cha ta làm điều gì sai thì không còn là ông cha ta nữa không? Nếu lý luận như vậy thì phải coi chừng chúng ta mất gia phả.
Một lần cho tất cả, phải khẳng định sự vô tội của người Công Giáo. Không làm gì có âm mưu nào trong việc truyền giáo tại Việt nam. Những giáo sĩ tới Việt nam chỉ để truyền đức tin Ki-tô mà thôi và các giáo dân đã theo đạo cũng chỉ vì đức tin Ki-tô. Các chúa Trịnh, chúa Nguyễn, rồi các vua nhà Nguyễn, thủ phạm của cuộc cấm đạo đẫm máu, ít ra cũng lương thiện hơn những “học giả” biện bạch cho họ. Các dụ cấm đạo chỉ buộc tội người Công Giáo theo một là đạo mà thôi, không bao giờ buộc thêm cho người Công Giáo một tội nào khác cả. Và lý do chính khiến đạo Công Giáo bị coi là một tà đạo và bị nghiêm cấm là trong giáo lý của nó, đức Chúa Trời mà mọi người phải thờ phụng trên hết mọi sự không phải là nhà vua.
Việc cấm đạo đã bắt đầu ở ngoài Bắc dưới chúa Trịnh Tráng để rồi đạt tới cao diễm dưới thời Trịnh Doanh; ở miền Nam ngay dưới thời Nguyễn Hoàng, rồi tiếp tục qua mọi đời chúa dù không gay gắt bằng. Đến khi nhà Nguyễn thống nhất đất nước, việc cấm đạo cũng chỉ ngừng lại ở thời Gia Long. Minh Mạng lên ngôi là lập tức cấm đạo, tiếp tục qua Thiệu Trị và đạt cao điểm dưới thời Tự Đức. Sau cùng chính vua Tự Đức cũng nhận ra sự sai lầm của mình và ra một dụ bỏ việc cấm đạo, kêu gọi Văn Thân thôi bách hại người Công Giáo với lời lẽ trầm thống, chứng tỏ một sự hối hận rất chân thành.
Có người viện dẫn một số tài liệu của Bộ Hải Quân Pháp để chứng minh có sự toa rập giữa các giáo sĩ và chính quyền Pháp. Nhưng các giáo sĩ đã truyền giáo trong điều kiện khó khăn tất nhiên phải có sự giao dịch với các thế lực có ảnh hưởng tới Việt nam lúc đó. Những người bị bách hại tất nhiên phải tìm chỗ dựa. Điều này cũng tự nhiên như ngày nay chúng ta vận động các chính phủ dân chủ và các tổ chức nhân đạo bênh vực cho những người dân chủ gặp khó khăn tại Việt nam. Mặt khác, đừng quên là các giáo sĩ cũng đã làm nhiều khuyến cáo và đề nghị với chính các vua nhà Nguyễn để hy vọng giúp Việt nam canh tân và mạnh lên, chỉ tiếc là họ đã không được nghe vì vua quan nhà Nguyễn quá thủ cựu.
Nhiều người Công Giáo Việt nam, giáo sĩ cũng như giáo dân, mặc dầu bị ruồng rẫy, tù tội, hạ nhục vẫn cố hết sức tìm cách giúp các vua nhà Nguyễn cải tổ để đưa đất nước đi lên dù chỉ gặp sự dửng dưng của vua quan nhà Nguyễn. Nếu những bài điều trần của Nguyễn Trường Tộ lọt được tai vua quan nhà Nguyễn thì đất nước chúng ta đây không như ngày nay.
Điều đáng ngạc nhiên chính là sự nhẫn nại của người Công Giáo. Mặc dầu bị bách hại đẫm máu họ đã không vùng lên chống lại chính quyền, trong khi đó là một phản ứng tự vệ rất bình thường. Nhà Nguyễn phá kỷ lục về giặc giã: các tay anh chị nổi lên khắp nơi tại miền Bắc, có khi để chống sưu cao thuế nặng, có khi để đòi lập lại nhà Lê, có khi chỉ vì lý do giản dị là quan quân quá yếu. Người Công Giáo ở miền Bắc lúc đó rất đông đảo chiếm hơn 10% dân số, lại rất tập trung và rất gắn bó. Nếu họ nổi loạn, nhờ người Pháp huấn luỵện và giúp khí giới, họ đủ khả năng đánh bại được quân nhà Nguyễn lúc đó rất suy yếu về cả vật chất lẫn tinh thần. Một viên thiếu úy với bảy tên lính Pháp đã có thể nghênh ngang vào tính Ninh Bình, bắt tất cả tuần phủ, án sát trói lại, tịch thu mấy chục khẩu đại bác, bắt quân Việt nam hạ khí giới quì hai bên đường. Người Công Giáo, nếu muốn, thừa sức đánh bại thứ quân đội vô dụng đó. Nhưng họ vẫn chịu đựng thà chết vì đức tin chứ không nổi loạn. ở vào thời buổi đó, đâu đâu cũng có nỗi loạn, nhưng những người Công Giáo, có lý do nhất và có khả năng nhất để nỗi loạn, lại không nỗi loạn.
Cái gì đã khiến người Việt nam theo đạo Công Giáo đông đảo như vậy? Đó chính là thông điệp Ki-tô. Vào thời buổi nhiễu nhương, con người chà đạp và chém giết lẫn nhau, còn gì an ủi hơn là được nghe một thông điệp hòa bình, bác ái, là được nghe những lời nhắn nhủ “ai thương xót người ấy là phúc thật, ai chịu khốn khổ vì lẽ phải ấy là phúc thật”? Đạo Công Giáo đã được sự hưởng ứng mạnh mẽ của những người cùng khổ. Cũng như Phật Giáo, và khác với Nho Giáo, đạo Công Giáo đã đến với dân tộc Việt nam không phải qua giai cấp thống trị, mà qua giai cấp bị chà đạp. Dụ cấm đạo của vua Minh Mạng nhận định các giáo sĩ đã lôi kéo bọn “bần dân mạt hạng”.
Người Công Giáo nhẫn nại và chịu đựng nhưng thừa sự dũng cảm. Họ sẵn sàng chịu chết chứ không bỏ đức tin của họ. Sự dũng cảm của họ nổi bật vào một lúc mà sự nhút nhát là tâm lý chế ngự. Quan quân cứ nghe vài tiếng súng là vất gươm súng mà chạy. Chính những người Công Giáo tử đạo đã cho tôi niềm tin vững chắc vào dân tộc Việt nam: nếu có một lý tưởng trong sáng, người Việt nam có thể rất dũng cảm và chấp nhận những hy sinh rất to lớn.
Sau này, một chính quyền sáng suốt của đất nước Việt nam dân chủ sẽ phải để ra một ngày lễ phục hồi danh dự cho những người Công Giáo đã tử đạo. Đó là điều chúng ta cần làm để hòa giải cộng đồng Công Giáo với cộng đồng dân tộc, để hàn gắn một vết thương rất đau nhức, một trang sử bi đát của dân tộc ta.
Chúng ta cũng sẽ phải có những ngày tưởng niệm cho những người đã chết oan trong những cuộc chiến vừa qua, những nạn nhân của cuộc cải cách ruộng đất, những người đã chết trong chiến dịch Phượng Hoàng, hay đã bị bắt cóc ám sát, những người đã bỏ mình trên biển cả trong khi chạy trốn chế độ cộng sản.
Chúng ta cần khép lại những vết thương đau, những trang sử bi đát của dân tộc, để có thể nhìn lại nhau là anh em ruột thịt và cùng bắt tay nhau xây một tương lai Việt nam chung.

Ảnh: Lý luận của trang Đơn vị tác chiến điện tử cho rằng Công giáo tiếp tay cho thực dân Pháp
(nguồn: Nhật Ký Yêu Nước)

Hỡi người biểu tình, hãy luôn cảnh giác...

Cuộc biểu dương lực lượng của bà con giáo dân ở trước cửa công ty Formosa đã thành công tốt đẹp bởi sự thắng lợi trong tầm mức của một cuộc đấu tranh ôn hòa bất bạo động. Nhưng vẫn có những bài học mà chúng ta phải rút ra từ trong thắng lợi này và làm nền tảng cho những cuộc xuống đường khác trong tương lai...

Trong cuộc biểu dương lực lượng ngày 2/10/2016 thì hẳn các cha xứ cùng giáo dân không hề có ý định tấn công các lực lượng CSCĐ đang đứng thành một hàng rào để bảo vệ bức tường rào của Formosa ở đằng sau. Có lẽ cuộc biểu dương lực lượng của bà con giáo dân và lương dân đã đến đúng điểm cần đến, cho một cuộc mitinh rầm rộ khí thế nhưng hoàn toàn ôn hòa trên tinh thần bất bạo động Thiên Chúa Giáo. Và đấy cũng là một chiến thắng không có gì phải bàn cãi cho những người biểu tình khi họ đến được nơi cần đến, và thể hiện khí thế ở nơi cần thể hiện khí thế.

Nhưng trong diễn tiến thì có một nhóm người nhỏ, có Trời biết họ là ai nhưng chắc chắn không phải là những giáo dân trật tự được dẫn dắt bởi linh mục Phe rô Trần Đình Lai, đã tấn công hàng rào CSCĐ bằng ném đá. Trong số người tấn công nhỏ này, có thể là những ngư dân phẫn uất, hay những người bị thản họa Formosa gây khốn đốn, mà cũng có thể lại chính là người của chính quyền, CA cài cắm vào hàng ngũ của người biểu tình để tìm cách gây bạo lực, bạo loạn, cũng như gây mọi cớ để đổ thừa cho người biểu tình, để chính quyền ra tay đàn áp. Chẳng có gì là quá đáng khi ta nói đây là một chiêu bài quen thuộc của những người CS trong suốt sự nghiệp "dựng nước và giữ nước" của họ. Và cái cái cách cho người của họ vào cài cắm và tấn công cảnh sát của họ để kích động bạo lực là chuyện họ sẵn sàng làm ngay, nếu cần.

Trở lại cuộc biểu tình ở Formosa thì ta thấy làm lạ là lịch xuống đường đã công khai trước đó mấy ngày nhưng lực lượng đối phó thì lèo tèo vài chục đến hơn 100 người và lọt thỏm giữa hàng ngũ đông đảo của người biểu tình. Không biết ý đồ của những người thực thi pháp luật hôm đó nhưng vẫn có dư luận cho rằng họ định 'thí"số CSCĐ ít ỏi đó hoặc "thí" ngay cả Formosa để mưu việc lớn. Ngay cả hàng rào có lớp CSCĐ của họ cũng đứng dàn hàng ngang chỉ có một lớp người mỏng manh trước số rất đông người biểu tình. Điều này ngược lại hoàn toàn với qui tắc chống biểu tình đông người là phải có nhiều lớp CSCĐ, mỗi lớp phải có nhiều hàng người gắn kết và hỗ trợ chặt chẽ cho nhau để bảo vệ hàng rào. Nên khi bị ném vài hòn sỏi, vì cũng chẳng có đá để mà ném thì hàng ngũ CSCD này co cụm rồi chạy biến mất. Formosa thất thủ. Dân tràn lên, leo lên rào và hò reo. Nhưng các cha xứ đã ban hành lệnh rút quân sau khi đạt thắng lợi, và đương nhiên làm thất bại thảm hại âm mưu nào đó, nếu có của chính quyền.

Tôi tin rằng các cha xứ dẫn dắt không bao giờ ra cái lệnh ném đá và đa phần, nếu không phải là tuyệt đối số giáo dân đều không làm chuyện đó. Chắc chắn không ai lại tấn công lực lượng công an chỉ để tiến chiếm lấy cái hàng rào cả. Ta có thể nghe tiếng các người lãnh đạo cuộc biểu tình luôn la thét coi chừng những kẻ lạ mặt ném đá vào CS. Giáo dân phải ngồi xuống để phát giác những kẻ trà trộn.

Ta hãy xem một đoạn trích trên đài BBC tường thuật vụ này :
Linh mục Phê đô Trần Đình Lai nói người dân "Không được ném chai lọ, không được ném đất", ..."không được bạo động, tất cả ôn hòa".
"Cảnh sát không được đánh dân, dân và cảnh sát không được xô xát," ông Lai nói khi cuộc xô xát ngắn dừng lại.
Vị linh mục này phát biểu cuộc biểu tình là để "đòi hỏi những người đã gây ra thảm họa này phải bồi thường công bằng, trả lại môi trường xanh sạch cho dân tộc".
"Người dân đứng ở cổng chính Formosa, trèo lên tường treo các băng-rôn khẩu hiệu, nhưng không có cuộc đập phá nào, không ai đập phá,” BBC

Và cũng gần như ngay sau đó, lực lượng giáo dân đã có lệnh rút lui, và các thành phần khác trong đoàn biểu tình cũng rút theo giáo dân. Như vậy rõ ràng là đã lệnh ôn hòa từ người biểu tình để đáp trả xứng đáng thái độ ôn hòa của các lực lượng an ninh trong ngày 2/10/2016 đó. Nói một cách văn vẻ thì không ai đã vượt qua lằn ranh Đỏ của ngày hôm đó, và cuộc biểu tình đã thành công tốt đẹp.

Biểu tình, xuống đường là sự thể hiện quyền lợi không thể bàn cãi của đông đảo người dân, hành động để phản đối, hay ủng hộ một việc nào đấy thiết thực với họ. Nếu không gặp phải sự trấn áp, phá hoại của chính quyền thì nó cũng không bao giờ biến thành bạo động hay mất kiểm soát mà mãi chỉ là các cuộc xuống đường hòa bình của lòng dân. Người dân tham gia xuống đường để thể hiện tiếng nói của mình, và vì những điều thiết yếu đến cuộc sống của họ chứ không phải do ai hay cái gì kích động cả. Đa phần họ đều là những công dân tôn trọng pháp luật, và nếu là giáo dân thì đều là những người kính Chúa, yêu nước... Họ xuống đường để đề đạt nguyện vọng với chính quyền và cũng như thể hiện sự phản đối hòa bình với chính quyền và tất cả đều muốn mọi sự diễn ra trong bình an, yên ổn. Chính quyền nên xem mỗi lần có đông đảo người dân xuống đường như là một "dịp may" để nhìn lại mình, để xem lại cách hành xử của mình chứ đừng vì nỗi sợ hãi nào đó mà hành động ngược lại với ý chí của người dân.

Bởi nâng thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân...

MTA

Những kiểu phụ nữ mà đàn ông phải tránh xa


Đằng sau những người đàn ông thành đạt luôn có bóng dáng của người phụ nữ. Tuy nhiên, cũng có không ít đấng mày râu “thân bại, danh liệt” vì… chọn lầm bóng hồng. Dưới đây là 12 kiểu phụ nữ mà cánh đàn ông nên tránh… nếu có thể.

1. Phụ nữ chiếm hữu

Phụ nữ chiếm hữu là mẫu phụ nữ quá xem trọng vật chất. Bản năng của họ là luôn tìm kiếm một người đàn ông có thể lo đủ cho các nhu cầu tài chính của họ. Nếu đặt lên bàn cân giữa tiền bạc và tình cảm thì ở mẫu phụ nữ này cán cân nghiêng hẳn về phía tiền bạc. Họ sẽ tìm nhiều cách để “săn” cho được “con mồi” của mình. Bản lĩnh của người đàn ông là phải sớm nhận ra được mẫu phụ nữ này trước khi quá muộn.

2. Phụ nữ cáu gắt

Đây là kiểu người luôn cáu gắt và khó chịu với hầu hết mọi thứ. Nhìn một vấn đề họ sẽ nhìn về mặt tiêu cực và lôi ra muôn vàn lý do để chê trách và cằn nhằn. Bởi vậy nên đàn ông cũng sẽ không bao giờ tìm thấy được sự vị tha trong những phụ nữ như thế này.
Kết thân với phụ nữ cáu gắt là tự mình chuốc lấy sự bất ổn trong cuộc sống hàng ngày. Nếu bạn không mệt mỏi vì đi xoa dịu sự cáu gắt của họ thì sớm muộn bạn cũng sẽ bị lây từ họ mà thôi, gần mực thì đen mà. Lời khuyên duy nhất là hãy tránh xa họ nếu bạn không muốn phải đối phó với họ suốt quãng đời còn lại.

3. Phụ nữ quá lãng mạn

Sống mơ màng, không thực tế chính là đặc điểm nổi trội của phụ nữ lãng mạn. Họ luôn mơ ước tới những thứ xa vời, về một bạch mã hoàng tử, về một ngôi nhà mơ ước, tương lai huy hoàng, êm đềm. Họ luôn giữ tư tưởng lơ lửng chốn thiên thai chứ không bao giờ đặt chân xuống mặt đất mà đối mặt với thực trạng của cuộc sống, từ đó họ đặt ra những tiêu chuẩn viễn vông và hành động cũng không bình thường. Dính tới những cô nàng như vậy nếu bạn không mệt mỏi chạy theo những đòi hỏi vớ vẫn của họ thì cũng sẽ suốt ngày nổi điên với những biểu hiện đó.

4. Phụ nữ bất ổn

Đây là mẫu phụ nữ có chút vấn đề về mặt tâm lý. Họ có thể rất quan tâm tới bạn, tin tưởng bạn nhưng cũng có thể suốt ngày gọi điện, nhắn tin để yêu cầu bạn xác nhận cho họ mối quan hệ giữa hai người. Mẫu phụ nữ này là cái gì đó lai giữa mẫu lãng mạn và mẫu bất thường ở trên. Bạn phải là “siêu nhân” mới chấp nhận được mẫu phụ nữ này, trong khi hầu hết cánh đàn ông chỉ là người bình thường.

5. Phụ nữ quá khích

Đây là mẫu phụ nữ có dư thừa tính mạnh mẽ và thiếu hụt sự nữ tính. Họ luôn đòi quyền bình đẳng và phải vượt mặt đàn ông ở mọi mặt, trong khi chẳng có anh chàng nào đang đua tranh với họ cái gì. Họ không tin trưởng ở đàn ông, họ tin vào bản thân họ và chỉ thích sống cho bản thân họ mà thôi.
Cuối cùng thì đa số phụ nữ thuộc loại này chịu “ở vậy”, số còn lại kết hôn một cách miễn cưỡng. Hãy tránh xa mẫu phụ nữ này bằng bất cứ giá nào, họ là những thái cực mà bạn không thể nào thỏa hiệp.

6. Phụ nữ tuyệt vọng

Mẫu phụ nữ này luôn có cái nhìn bi quan về mọi mặt của cuộc sống. Họ thường mất niềm tin vào cuộc sống, quá mức yếu đuối. Phụ nữ đúng là cần có đàn ông che chở, tuy nhiên việc quá ủy mị, yếu đuối và hoàn toàn không có bản sắc thì hẳn nhiên không có anh chàng nào dám gắn bó lâu dài.

7. Phụ nữ thay đổi

Đây là những “chuyên gia” trong vấn đề chinh phục đàn ông. Nàng là người khéo ăn khéo nói mà lại dễ chìu nên việc chiếm lĩnh trái tim của đàn ông là… chuyện nhỏ. Tuy nhiên, với bản tính cố hữu “thay lòng đổi dạ”, nàng sẽ dễ dàng nói lời chia tay một khi “cá đã cắn câu” để tiếp tục cuộc chinh phục những mục tiêu khác.
Mục đích duy nhất của phụ nữ dạng này là “chinh phục chỉ để chinh phục” nên người đàn ông nào nằm trong “tầm ngắm” của họ sẽ là “nạn nhân” thay vì cứ lầm tưởng mình là “người tốt số”.

8. Phụ nữ khiêu khích

Họ ăn diện bắt mắt, hút mọi ánh nhìn thèm thuồng, trong đó có bạn. Đừng tin những lời ngụy biện của họ và việc chỉ chạy theo phong cách thời trang, đó đơn giản chỉ là sự thể hiện của bản chất của họ mà thôi. Bạn có muốn yêu một cô nàng lúc nào cũng khiêu khích tất cả đàn ông và nguy cơ cắm sừng là rất cao không?

9. Phụ nữ chỉ đạo

Mẫu phụ nữ này thích làm… mẫu thân của bạn hơn là làm vợ hay người yêu của bạn. Họ thích kiểm soát cuộc sống của bạn. Nàng sẽ vui khi bạn là con rối trong tay của nàng. Bạn muốn tự sống cuộc sống của mình hay làm con rối cho người khác?

10. Phụ nữ tự tôn

Nàng nghĩ bản thân mình là “cái rốn của vũ trụ”. Nàng thích được mọi người chú ý tại bất cứ nơi nào nàng xuất hiện, nhưng thật ra nàng chính là con người ích kỷ vốn được nuông chìu trong một gia đình ít con, thường là “cô gái rượu” trong nhà.
Trong tình yêu, nàng đòi hỏi người bạn tình cũng phải có cách đối xử “đặc biệt”. Đối với nam giới, yêu một phụ nữ tự tôn là cả một vấn đề khó xử trong giai đoạn đầu, về lâu về dài cũng rất khó chiều ở giai đoạn tiếp theo và thường kết thúc bằng chia tay ở giai đoạn cuối.

11. Phụ nữ tai họa

Đây là mẫu phụ nữ thường khiến đàn ông phải “thân bại, danh liệt”. Phụ nữ tai họa là tổng hợp của 10 mẫu phụ nữ kể trên. Họ thường là những người ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân.
Với dáng vẻ bề ngoài “bắt mắt”, họ là hiện thân của sự chiếm đoạt, thống trị, nhưng trong thâm tâm họ có những lúc chán nản và bất bình thường. Lời khuyên cuối cùng là hãy tránh họ càng xa càng tốt.

Người Việt

2/10/16

Công tác mới của TBT Nguyễn Như Phong báo Petrotimes..

Theo các nguồn tin thì đại tá, kiêm TBT kính mến Nguyễn Như Phong của tờ báo khá nổi tiếng lề phải Petrotimes đã được tổ chức làm lễ thu hồi thẻ nhà báo cùng chức TBT của tờ báo này. Đồng chí cũng đã được tổ chức ưu ái sắp xếp để nhận trọng trách ở nơi làm việc mới. Đó là về quê phụ vợ để chăn vịt.

Lý do của việc thăng cấp đột xuất này là do báo Petrotimes đã đăng lại một bài phỏng vấn Người Buôn Gió, trong đó Gió có thông báo tin mừng về việc đồng chí Trịnh Xuân Thanh sẽ tổ chức họp báo công khai...

Không chỉ đồng chí TBT Nguyễn Như Phong, người đã nổi tiếng với thành tích so sánh nhà báo với chó được thăng cấp như đã nói ở trên, mà có thể cả tờ báo Prtrotimes cũng được khen thưởng cùng đồng chí TBT kính mến. Đó là tự đình bản, không làm công tác báo chí bưng bô nữa mà chuyển sang Viện Bảo Tàng làm chứng tích phi vật thể để học sinh tới chiêm ngưỡng. Trong buổi lễ chia tay đậm tình đồng chí, cựu TBT đã xúc động dặn dò lớp phóng viên trẻ tuổi rằng :"Trong sự nghiệp bưng bô thì chúng ta phải bưng bằng hai tay. Bưng bằng một tay bô sẽ rơi, rớt hàng trong đó"...

Thôi thì không biết nói gì lúc chia tay, chỉ biết chúc đồng chí cựu TBT Nguyễn Như Phong mạnh khỏe và công tác tốt trên các cương vị mới quan trọng hơn mà Đảng đã tin tưởng giao phó cho đồng chí. Vì hột vịt năm nay có giá hơn hột vịt năm trước nên rất cần những con người tài năng như đồng chí..

Chào đoàn kết và quyết thắng !

MTA

1/10/16

Nhìn lại đảo chính tháng 8/1991 tại Liên Xô

Cuộc chính biến tháng 8-1991 là hệ quả tất yếu của quá trình chuyển đổi lệch hướng công cuộc cải tổ và công khai hóa, từng được Tổng bí thư Mikhail Gorbachev khởi xướng
Tác giả: Quang Dũng (tổng hợp)
Cuộc chính biến tháng 8-1991 là hệ quả tất yếu của quá trình chuyển đổi lệch hướng công cuộc cải tổ và công khai hóa, từng được Tổng bí thư Mikhail Gorbachev khởi xướng từ tháng 3-1985. Được “khua chiêng gióng trống” ầm ĩ, công cuộc cải tổ không những không chữa được những căn bệnh trầm kha của xã hội Xôviết mà cuối cùng lại còn giúp cho thế lực hữu khuynh, những kẻ thù giai cấp và đầy tham vọng cá nhân tận dụng triệt để trong việc kích động lực lượng phản kháng tác động đến phần lớn quần chúng đang mất dần niềm tin vào thể chế.
Chính biến tháng 8-1991 là tiếng chuông cáo chung đầu tiên cho sự sụp đổ của Liên bang Xôviết mà Tổng thống Nga Vladimir Putin từng gọi đây là “thảm họa địa chính trị lớn nhất thế kỷ”. Và hai nhân vật đóng vai trò tối quan trọng tạo nên thảm họa này là “kiến trúc sư” cải tổ Mikhail Gorbachev và “Sa hoàng Nga thời hiện đại” Boris Yeltsin.
Sai nhiều ly, đi muôn dặm
Kể từ khi trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1985, Gorbachev đã theo đuổi và tiến hành nhiều cải cách toàn diện trong hệ thống Xôviết. Thoạt đầu, Mikhail Gorbachev chỉ muốn cải cách chế độ Xôviết lúc đó đang mắc chứng bệnh trì trệ khá trầm trọng do những nguyên nhân phần nhiều mang tính chủ quan.
Không vượt lên trên được các đối thủ phương Tây trong Chiến tranh Lạnh về hiệu suất cũng như thành quả lao động, không kiên quyết đấu tranh bài trừ những căn bệnh vốn bắt rễ và âm thầm lây lan trong giới cầm quyền như nạn tham nhũng, bè phái, hưởng nhiều đặc lợi vượt giới hạn, sùng bái chủ nghĩa hình thức, xa rời hay diễn giải sai lệch theo kiểu xu thời những nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong khi Gorbachev không có phương án nào khả dĩ để đối phó với trào lưu dân tộc chủ nghĩa đang sinh sôi nảy nở và biến tướng từng ngày hay các vụ tranh chấp lãnh thổ giữa các nước cộng hòa… đó chính là những nguyên nhân chính khiến Nhà nước Xôviết dần dà suy giảm tiềm lực và vị trí của mình trên trường quốc tế.
Công bằng mà nói, chủ trương kết hợp “cải tổ” (perestroika) nền kinh tế, trong đó chú trọng hơn vào các chính sách thị trường tự do, và “cởi mở hay công khai hóa” (glasnost) trong ngoại giao, Mikhail Gorbachev đã cải thiện đáng kể quan hệ với nhiều nền dân chủ phương Tây, đặc biệt là Mỹ. Nhưng trên bình diện đối nội, Mikhail Gorbachev càng ngày càng phải đối mặt với nhiều chỉ trích đến từ cả những người ủng hộ cải cách và những người bảo thủ cứng rắn.
Đại diện cho phe cải cách như Boris Yeltsin cũng cho rằng nghị trình cải cách của Gorbachev quá chậm chạp, còn những người theo phe bảo thủ lại chỉ trích chính sách và hành động của Mikhail Gorbachev là xa rời các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác. Trong nỗ lực thúc đẩy chương trình cải cách của mình, Gorbachev đã dẫn đầu một phong trào sửa đổi Hiến pháp Liên Xô, bao gồm việc thiết lập một vị trí tổng thống mới tập trung nhiều quyền lực hơn.
Những nỗ lực ấy đã tạo điều kiện cho một số lực lượng và phong trào mà Gorbachev không hề ngờ tới xuất hiện, đặc biệt là sự kích động và phát triển của chủ nghĩa dân tộc quốc gia từ phía các nước cộng hòa bên trong Liên bang Xôviết mà dân tộc Nga chỉ chiếm thiểu số, làm nảy sinh xu hướng ly khai khỏi thể chế trung ương tập quyền.
Ngày 15-3-1990, Đại hội Đại biểu Nhân dân Liên Xô bầu Tổng bí thư Mikhail Gorbachev lên làm Tổng thống đầu tiên của Liên bang Xôviết với nhiệm kỳ 5 năm. Tuy đây là một thắng lợi của Mikhail Gorbachev, nhưng để đi đến thắng lợi này, ông ta đã làm việc không ngừng nghỉ và dùng nhiều chiêu thức như liên tục đe dọa sẽ từ chức để đảm bảo rằng Đại hội sẽ dành cho ông ta hai phần ba số phiếu đa số cần thiết.
Vì nếu thất bại, ông ta sẽ phải chạy đua với những ứng cử viên khác trong một cuộc tổng tuyển cử. Vòng bầu cử cuối cùng trong Đại hội diễn ra hết sức gay cấn, và cuối cùng, với khoảng cách 46 phiếu mong manh, Gorbachev đã giành được hai phần ba số phiếu bầu cho mình.
Liên bang Nga, chủ thể quan trọng nhất trong Liên bang Xôviết tuyên bố chủ quyền vào ngày 12-6-1990 và sau đó giới hạn áp dụng luật Xôviết, đặc biệt các luật lệ liên hệ tới tài chính và kinh tế, trên lãnh thổ Nga. Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao đề nghị tiến hành một cuộc trưng cầu dân ý trên toàn Liên bang vào ngày 17-3.
Trong khi các nước cộng hòa vùng Baltic và các nước Armenia, Gruzia, Moldova tẩy chay thì đa số công dân của tất cả các nước cộng hòa khác trong Liên bang đều thể hiện mong muốn gìn giữ Liên bang Xôviết.
Sau nhiều cuộc đàm phán, tám trong số chín nước cộng hoà (ngoại trừ Ukraine) đã thông qua Hiệp ước Liên bang mới với mục tiêu biến Liên Xô thành một liên bang của những nước cộng hòa độc lập với một vị tổng thống, có chính sách đối ngoại và quân đội chung. Liên bang Nga, Kazakhstan và Uzbekistan dự định sẽ ký kết hiệp ước tại Moskva ngày 20-8-1991.
Theo lời kể của Vladimir Kriuchkov, nguyên Chủ tịch Ủy ban An ninh quốc gia (KGB), chính Boris Yeltsin đã thuyết phục được Mikhail Gorbachev cho biên soạn dự thảo Hiệp ước Liên bang mới trong vòng bí mật mà không cho bất cứ ủy viên nào trong Xôviết tối cao Liên Xô hay Đại hội các đại biểu nhân dân hay biết. Theo tinh thần bản dự thảo được hoàn thành vào cuối tháng 7-1991 này, hạn mức đóng góp tài chính và số lượng thuế nộp cho ngân sách Liên bang chỉ do chính quyền các địa phương quy định.
Trong tất cả các cơ quan quyền lực thì sẽ chỉ có KGB mang quy mô liên bang, còn các lực lượng vũ trang, Bộ Nội vụ cũng như một số cơ quan chức năng khác thuộc các lĩnh vực đối ngoại, truyền thông… sẽ nằm trong tay chính quyền các nước cộng hòa.
Điều này có nghĩa là chính quyền Liên bang sẽ không còn công cụ hữu hiệu nào để kiểm soát và quản lý ở tầm quốc gia. Boris Yeltsin vào thời điểm này là nhân vật có tầm ảnh hưởng như thế nào mà có thể dùng “ba tấc lưỡi” cùng bộ sậu thân tín của mình thuyết phục được M. Gorbachev cho soạn thảo một Hiệp ước liên bang mang tính dự báo ngày tan vỡ của Liên bang Xôviết hùng mạnh bậc nhất ở phần Đông bán cầu?
Kẻ đốt đền “Danh vang như cồn”
Boris Nicolaievich Yeltsin sinh trưởng ở vùng Sverdlovsk, gia nhập Đảng cộng sản Liên Xô từ năm 1961, bắt đầu làm việc trong bộ máy hành chính của đảng năm 1968 với cương vị lãnh đạo phụ trách xây dựng Ủy ban vùng Sverdlovsk. Năm 1975, Boris Yeltsin trở thành Bí thư Ủy ban vùng và chịu trách nhiệm phát triển công nghiệp vùng.
Năm 1977, chính B. Yeltsin là người ra lệnh phá huỷ chứng tích tòa nhà của thương gia Ipatiev, nơi giam giữ Sa hoàng Nicolai II, gia quyến và những tùy tùng thân tín nhất, cuối cùng toàn bộ họ bị hành quyết vào năm 1918. Tòa nhà này bị phá hủy chóng vánh chỉ trong đêm và rạng sáng ngày 18-9. Phát huy năng lực của một lãnh đạo phụ trách xây dựng ủy ban vùng ngày trước, trong 30 năm hoạt động, Yeltsin đã phát triển các mối quan hệ với những nhân vật chủ chốt bên trong cơ cấu quyền lực Xôviết.
Yeltsin được bầu vào Bộ Chính trị và kiêm chức Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Liên Xô Ủy ban thành phố Moskva (có thể hiểu vị trí lãnh đạo này nôm na là thị trưởng) từ ngày 24-12-1985 đến năm 1987. Ông ta được đề bạt lên tới các chức vụ đó nhờ Mikhail Gorbachev và Yegor Ligachev, những người tin tưởng rằng Yeltsin sẽ trở thành “người phe mình”. Yeltsin ngoài việc được hưởng những chế độ ưu đãi đặc biệt dành cho lãnh đạo cấp cao còn được cấp một căn biệt thự “khiêm tốn” ở thôn quê trước kia từng thuộc quyền sở hữu của Gorbachev.
Trong thời gian này, Yeltsin rất biết cách tự thể hiện mình như một nhà cải cách và gần gũi quần chúng như chuyện ông ta đến công sở bằng xe điện bánh hơi (một trong các phương tiện giao thông công cộng phổ biến trong các thành phố lớn của Liên Xô), liên tục sa thải “những kẻ quan liêu, ù lì” và không ngừng cải tổ bộ máy nhân sự của mình. Những động thái và cách hành xử của một nhân vật như thế trong cỗ máy lãnh đạo hành chính già cỗi nghiễm nhiên biến ông ta thành một “ngôi sao” chói lòa và được dân chúng thủ đô truyền tai nhau trong niềm phấn khích.
Năm 1987, Yeltsin công khai bày tỏ sự bất bình với những bước tiến hành cải tổ chậm chạp trong xã hội, đòi ra khỏi Bộ chính trị. Gorbachev sau khi phê phán Yeltsin “non nớt về chính trị” và “có cách hành xử hoàn toàn vô trách nhiệm”, đã đưa vấn đề bãi miễn chức vụ Bí thư thứ nhất của Yeltsin tại phiên họp toàn thể Thành ủy Moskva. Tháng 11-1987, Yeltsin bị cách chức và bị “chuyển vị trí công tác” làm Phó ủy viên thường trực Ủy ban nhà nước về xây dựng.
Cú giáng này khiến Yeltsin choáng váng và đau đớn đến mức phải nhập viện. Trong tâm trạng rối loạn và nhục nhã, Yeltsin bắt đầu sắp đặt kế hoạch trả thù. Có thể thấy, một khi thể chế đã bộc lộ những lỗ hổng mang tính hệ thống khiến những kẻ cơ hội có thể luồn sâu leo cao thì tất yếu sẽ sản sinh ra những kẻ thù cốt tử ngay trong chính đội ngũ quyền cao chức trọng nhất. Những nhân vật như thế chỉ mượn hệ tư tưởng làm công cụ tiến thân chứ không phải là những người thực sự mang sứ mệnh làm lãnh đạo.
Trong sử sách Hy Lạp, Herostratos là một gã thanh niên sống lêu têu nhưng luôn hy vọng sẽ trở nên nổi tiếng, vì thế hắn đã phóng hỏa đền thờ thần Artemis ở Ephesus (nay nằm ở miền Tây Thổ Nhĩ Kỳ) vào ngày 21-7-356 trước Công nguyên. Đền thờ này là ngôi đền đẹp nhất trong số khoảng 30 ngôi đền của người Hy Lạp xây dựng để thờ phụng thần Artemis, nữ thần săn bắn.
Đây cũng là một trong bảy kỳ quan thế giới cổ đại. Không những không thèm lẩn tránh vì đã cố ý phóng hỏa ngôi đền linh thiêng, Herostratos còn rất tự hào nhận trách nhiệm với hy vọng tên tuổi mình sẽ trở thành bất tử trong lịch sử. Vì vậy, những nhà chức trách ở Ephesus đã không chỉ xử tử hình Herostratos mà còn biến hắn trở thành một người vô danh khi tuyên án. Đương nhiên biện pháp này cũng không thể ngăn cản Herostratos đi vào lịch sử như hắn mong muốn.
Trung tướng Alexander Korzhakov từng là chỉ huy lực lượng bảo vệ Boris Yeltsin ngay từ khi ông này chưa trở thành ông chủ Điện Kremli đã chứng kiến toàn bộ đoạn đường thay đổi của kẻ từ chỗ là một trong những nhân vật hàng đầu của thể chế Xôviết trở thành một trong những thủ phạm chính khiến Liên Xô tan rã. Khi “Sa hoàng tương lai” Boris bị đẩy khỏi ghế Bí thư Thành ủy Moskva, trong khi đội vệ sĩ riêng của ông ấy theo đúng quy chế phải giải tán thì Alexander Korzhakov đã chấp nhận ở lại bên Yeltsin và còn đưa cho ông ta dùng chiếc ôtô hiệu Niva của mình.
Thời gian đó, giữa A. Korzhakov và Yeltsin vẫn còn những quan hệ nằm ngoài công vụ: thỉnh thoảng họ gọi điện thoại cho nhau, tới nhà nhau chơi… A. Korzhakov quay về Bộ Tư lệnh cảnh vệ xin làm… chân trực ban. Lịch làm việc của A. Korzhakov khi ấy là cứ ba ngày thì một ngày phải trực, vì hai ngày còn lại thì được quay về khu Prostokvashino là nơi gia đình bên vợ sinh sống cách Moskva 90km. A. Korzhakov vẫn giữ liên lạc với ông Yeltsin.
Ông ta cũng hay tới chỗ A. Korzhakov chơi nếu ngày nghỉ của hai người trùng nhau. Cũng chính vì hay gặp gỡ bù khú “vài ly” với Yeltsin mà đến giữa năm 1988, A. Korzhakov bị sa thải. Sau khi bị sa thải, mọi sự trở nên đơn giản hơn vì A. Korzhakov đi làm cho một công ty an ninh tư nhân nên chuyện gặp gỡ Yeltsin còn diễn ra thường xuyên hơn. Đến mùa thu cùng năm thì xảy ra chuyện Yeltsin “bị mưu sát”!
Korzhakov kể lại: Tại diễn đàn Đại hội Đại biểu Nhân dân Liên Xô, có ai đó đã khuấy động khán phòng bằng tin dường như là có “kẻ thù” định mưu sát ông Yeltsin bằng cách đẩy ông ta từ trên cầu xuống. Nhưng vài năm sau thì một số người cũng từng là Ủy viên Trung ương lại khẳng định với A. Korzhakov rằng, mọi việc không phải như thế. Trước khi tin “bị mưu sát” loang ra, ông Yeltsin có tới chỗ nhà cô nhân tình của mình, một “chị nuôi” làm việc trong khu nghỉ dưỡng chính phủ Uspenskoie. Đến nhà cô ấy, Yeltsin chơi trò của thanh niên là nhặt viên đá nhỏ rồi ném lên cửa sổ nhà cô ta. Không may là lúc đó trong nhà cô ấy lại có mặt cậu nhân tình trẻ nên cậu ta nổi cơn ghen, chạy ra gây gổ với ông Yeltsin rồi nổi đóa xô ông ta ngã vào một vũng nước. Thế là ông Yeltsin đi kể lại với mọi người rằng ông ấy bị “kẻ thù xô xuống cầu” (!)…
Người được choàng chiếc áo của một anh hùng
Trong cái đêm xảy ra vụ “mưu sát”, cô Tachiana, con gái B.Yeltsin đã liên tục gọi điện thoại về nhà của A. Korzakov. Người cận vệ trung thành cấp tốc phóng tới khu Uspenskoie, lúc đó B.Yeltsin đã tới được một trạm gác của cảnh sát giao thông.
Đến nơi, A. Korzakov nhìn thấy một người đàn ông mặc quần đùi trắng nằm lăn lóc trên băng ghế chờ, cả người tím tái. Cảnh sát giao thông đã mặc cho ông ấy một cái áo choàng ngắn và đặt bên cạnh một máy sưởi.
Vừa trông thấy A. Korzakov là B.Yeltsin khóc nức lên: “Nhìn đây Sasha, anh nhìn mà xem bọn họ đã làm tôi ra nông nỗi thế này đây…”. A. Korzakov lập tức rót cho ông ấy uống ngay hết một cốc rượu to, B.Yeltsin nuốt đánh ực rồi lại nằm vật xuống băng ghế. Lúc đó A. Korzakov mang theo chai rượu 0,8 lít và loáng cái B.Yeltsin đã nốc cạn cả chai. Liên tục chà xát cho ấm người, chai rượu như một thứ “biệt dược” đã giúp B.Yeltsin tỉnh người ra và bắt đầu huyên thuyên trở lại.
Tháng 3-1989, B.Yeltsin được bầu vào Đại hội đại biểu nhân dân với tư cách là đại biểu quận Moskva và giành được ghế trong Xôviết tối cao. Tháng 5-1990, ông ta được bầu làm Chủ tịch Đoàn chủ tịch Xôviết tối cao Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xôviết Nga (RSFSR). B.Yeltsin được cả những nhân vật cấp tiến dân chủ lẫn phe bảo thủ, những kẻ đang tìm cách nắm thêm quyền lực trong tình hình chính trị biến động trong Xôviết tối cao ủng hộ.
Ở đây có thể thấy, một phần trong cuộc đấu tranh giành quyền lực ngấm ngầm và đầy căng thẳng này là sự đối đầu giữa các cơ cấu quyền lực Liên bang Xôviết và Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga. Trong một nỗ lực nhằm giành thêm quyền lực vào tay mình, ngày 12-6-1990, Đại hội đại biểu nhân dân RSFSR đã đồng ý đưa ra một tuyên bố về chủ quyền và tháng 7-1990, B.Yeltsin tuyên bố ra khỏi đảng Cộng sản.
Như trong nội dung bài trước đã đề cập, cuộc trưng cầu dân ý tổ chức trên toàn Liên bang Nga ngày 17-3-1991 (cuộc trưng cầu này bị các nước cộng hòa vùng Baltic và các nước Armenia, Gruzia, Moldova tẩy chay), đa số công dân của tất cả các nước cộng hòa khác trong Liên bang đều thể hiện mong muốn gìn giữ Liên bang Xôviết.
Sau nhiều cuộc đàm phán, tám trong số chín nước cộng hòa (ngoại trừ Ukraine) đã thông qua Hiệp ước Liên bang mới biến Liên bang Xôviết thành một liên bang của những nước cộng hòa độc lập với một vị tổng thống. Ngày 12-6-1991, B.Yeltsin đạt 57% số phiếu bầu trong cuộc bầu cử tổng thống dân chủ của nhà nước Nga, đánh bại ứng cử viên Nikolai Ryzhkov được M.Gorbachev hậu thuẫn.
Trong chiến dịch tranh cử của mình, B.Yeltsin không ngừng chỉ trích “sự chuyên chính của trung ương”, nhưng không đưa ra đề xuất nào về một nền kinh tế thị trường. Thay vào đó, ông ta nói rằng “Tôi sẽ đưa đầu vào đường ray tàu hỏa nếu giá cả cứ tiếp tục tăng lên”.
Với đông đảo người dân, giữa thời buổi nhiều biến động, ngay cả những mặt hàng nhu yếu phẩm hàng ngày cũng trở nên đắt đỏ và khan hiếm thì cũng thật dễ hiểu là tại sao M.Gorbachov trở thành đối tượng để họ trút giận. Và nếu như có một nhân vật nào đó dám đứng lên gạt phăng mọi lo toan bức bối thì cho dù người đó có là Donquichote cưỡi con lừa già cỗi xông vào choảng nhau với mấy chiếc cối xay gió to lừng lững thì vẫn được quần chúng vỗ tay tung hô.
B.Yeltsin trở thành Tổng thống CHLB Nga thông qua cuộc bầu cử trực tiếp với chiến thắng vang dội, còn M.Gorbachov ngược lại, được Quốc hội bầu làm Tổng thống chứ không phải do dân bầu. Vì thế, ông ta không thể nói rằng, mình là tổng thống được lòng dân.
B.Yeltsin nhậm chức Tổng thống Liên bang Nga ngày 10-7. Theo thỏa thuận giữa Tổng thống Liên Xô M.Gorbachev với Tổng thống Liên bang Nga B.Yeltsin, Hiệp ước Liên bang mới phải được ký vào ngày 20-8.
Tình thế này khiến cho Nguyên soái Yazov, lúc đó đang giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng, cũng như nhiều đảng viên cộng sản Liên Xô đang ở những vị trí cao trong bộ máy Liên bang chợt hiểu ra rằng, bằng cách đó, sự tan vỡ của Liên bang Xôviết đã có thể đếm từng ngày vì trong khi tất cả đều nói “ủng hộ Liên bang Cộng hòa XHCN Xôviết”, vậy mà lại đưa ra dự thảo Hiệp ước Liên bang trong đó chỉ nói tới các quốc gia có chủ quyền. Phe thủ cựu nhận thức được rằng, đang diễn ra một quá trình có định hướng rõ ràng nhằm đạt mục đích không có một liên bang nào cả, mà chỉ có một liên minh các nước cộng hòa có các vị tổng thống riêng.
Trước nguy cơ Liên Xô tan rã nếu Hiệp định Liên bang mới được ký kết đúng vào ngày 20-8, Chủ tịch KGB Kriuchkov đã đứng ra tập hợp lực lượng để “tìm cách giải nguy”.
Chiều tối thứ bảy 18-8, vào cuối buổi làm việc, ông Kriuchkov đã gọi điện cho một số người thân cận, mời tới một căn cứ quân sự tại Moskva bàn chuyện đại sự. Sau cuộc họp kín, họ quyết định cử một phái đoàn tới Crimea, nơi M. Gorbachev cùng gia đình đang đi nghỉ dưỡng. Họ đã cố gắng thuyết phục tổng thống Liên Xô đứng về phía họ và hủy bỏ việc ký Hiệp định Liên bang mới, nhưng đã không thành công.
Vào thời điểm tháng 8 ấy, B. Yeltsin đang thăm chính thức Kazhastan (nước cộng hòa đầu tiên đồng ý ký Hiệp ước Liên bang mới). Cũng theo lời kể của A. Korzakov, có lẽ ông Nazarbayev (Nursultan Abishevich Nazarbayev, lãnh đạo Kazakhstan lúc đó) đã biết trước chuyện gì đó hoặc đã ngầm đoán được nên cứ tìm cách kéo dài chuyến thăm như bộ phận khánh tiết cứ bày hết bữa tiệc này đến bữa tiệc khác…
Theo lịch trình thì đã tới lúc phải rời đi, lịch bay đã được sắp xếp, nhưng chủ nhà vẫn chèo kéo mời mọc chén thù chén tạc. Tổ cận vệ của B. Yeltsin đã phải về nhà nghỉ rất muộn. Mới 6 giờ sáng hôm sau, trực ban đã đánh thức A. Korzakov bằng giọng thảng thốt: “Aleksandr Vasilievich, nước ta xảy ra đảo chính rồi!”. Trong lúc mặc trang phục, A. Korzakov tranh thủ thu thập thêm tin tức và chạy tới chỗ gia đình B. Yeltsin đánh thức họ dậy.
Người Mỹ đã mật báo cho M. Gorbachev về âm mưu đảo chính
Đúng 6 giờ 5 phút ngày 19-8 tại Moskva, Phó Tổng thống Liên Xô Gennady Yanayev đã công bố sắc lệnh bất thường về việc Tổng thống Liên Xô Gorbachev do tình trạng sức khỏe suy yếu nên không thể đảm đương được chức trách của mình và bắt đầu từ ngày 19-8, ông Yanayev sẽ đảm nhận cương vị Quyền Tổng thống Liên Xô trên cơ sở điều 127 mục 7 Hiến pháp Liên Xô. Lúc này, tại biệt thự nghỉ dưỡng của mình ở Crimea, M.Gorbachev và gia đình bị quản thúc. Khi bị ép phải tuyên bố từ chức, ông ta thẳng thừng từ chối.
6 giờ 15 phút, Ban lãnh đạo mới của Liên Xô ban bố lệnh áp dụng tình trạng khẩn cấp ở một số khu vực trong thời hạn 6 tháng. Một Ủy ban Nhà nước về tình trạng khẩn cấp (viết theo những chữ cái đầu phiên theo tiếng Nga là GKCHP) đã được thành lập, đứng đầu là Phó Tổng thống Liên Xô Gennady Yanayev; các thành viên còn lại của Ủy ban gồm Chủ tịch KGB Vladimir Kriuchkov, Bộ trưởng Nội vụ Boris Pugo, Bộ trưởng Quốc phòng Dmitri Yazov, Thủ tướng Valentin Pavlov… 9 phút sau, GKCHP đã ra lời kêu gọi quốc dân đồng bào và nhận trách nhiệm nắm giữ vận mệnh Liên Xô.
Phó Tổng thống G. Yanayev cùng các thành viên GKCHP ngay lập tức lên đài truyền hình và phát thanh đưa ra một tuyên bố đanh thép buộc tội chính quyền của M. Gorbachev, nhưng giọng điệu yếu ớt và bàn tay run rẩy của G. Yanayev không giấu nổi trước ống kính máy quay khi đang phát biểu ngay lập tức khiến mọi người có cảm giác ông này không phải là người có thể vãn hồi được trật tự xã hội, điều nhiều người đang canh cánh mong chờ và hy vọng.
Những quyết định đầu tiên của Ủy ban tình trạng khẩn cấp đưa ra là cấm các đảng phái khác hoạt động, cấm tổ chức các cuộc mít tinh và đình bản một số ấn phẩm báo chí. Các chương trình truyền hình cũng bị cấm phát. Quân đội được đưa vào một số thành phố lớn của Liên Xô.
Khi ấy, có hiện tượng khiến A. Korzakov không thể giải thích nổi là nếu B. Yeltsin cùng bộ sậu đến Kazakhstan để chuẩn bị cho lễ ký kết một hiệp ước quan trọng như thế thì không hề có một ai chuẩn bị cho lễ ký cả. Theo lý giải của bản thân A. Korzakov, thông thường trong những trường hợp như thế thì trên báo chí phải có cả một chiến dịch tuyên truyền ầm ĩ, đằng này mọi sự vẫn diễn ra trong im lặng.
Nếu như ngày hôm sau sẽ là ngày ký nhưng bộ phận bảo vệ của A. Korzakov không hề nhận được lịch trình hay địa điểm sẽ diễn ra sự kiện này; ai cũng phân vân không biết nó sẽ diễn ra ở Novo-Ogarevo hay Điện Kremli?
Cho đến nay, A. Korzakov dần dần nghiệm ra rằng, có vẻ như cả M. Gorbachev lẫn B. Yeltsin đã biết trước về việc lễ ký Hiệp ước liên bang mới sẽ không diễn ra. Còn trước thông tin về cuộc chính biến, B. Yeltsin lại tỏ ra bình thản; là do ông ta đã biết trước hay chưa thể hình dung ra hết chuyện gì đang xảy ra ở thủ đô Moskva?
Hay đơn giản chỉ là ông ta đã bị Tổng thống Kazakhstan Nursultan Abishevich chuốc rượu quá nhiều, rồi lúc lên máy bay còn uống thêm nữa nên rơi vào tình trạng “quắc cần câu”? Vì khi về tới Moskva thì B. Yeltsin đã say bí tỉ đến mức khi được Korzakov đánh thức vào lúc 7 giờ 30 thì ông ta lè nhè gắt: “Đánh thức cái gì? Chính biến cái gì? Các cậu bịa ra chuyện gì vậy?”.
Về đến trụ sở Quốc hội của chính quyền CHLB Nga, thường được gọi là “Nhà Trắng Moskva”, B.Yeltsin ngay lập tức được đại diện của đại sứ quán Mỹ, tọa lạc gần Nhà Trắng đưa ra đề nghị để B.Yeltsin tới ẩn náu trong tòa đại sứ trong trường hợp ông ta bị Ủy ban GKCHP ra lệnh bắt giữ. Chính A. Korzakov đã tiến hành thương thảo với đại diện đại sứ quán Mỹ về chuyện này.
Giữa họ đã đạt được thỏa thuận: trong trường hợp nếu Nhà Trắng bị tấn công, các cửa sau của Đại sứ quán Mỹ phải luôn luôn để ngỏ và tình trạng này có thể phải kéo dài trong ba ngày. Một khi đã chạy vào đây, “nạn nhân” có thể tá túc tới cả năm và từ đó sẽ thông báo đi khắp thế giới về những việc diễn ra ở nước Nga.
Ngoài phương án này, tổ cận vệ của B. Yeltsin còn đưa ra giải pháp sẽ cùng Tổng thống Nga chạy xuống tầng hầm Nhà Trắng, dưới đó có một công trình tránh bom khổng lồ và hiện đại, có khả năng bảo vệ trước bất cứ một loại bom công phá nào. Họ có thể ẩn náu dưới đó vài ba tuần và sau đó tìm đường thoát ra ngoài. Nghe trình bày về hai tình huống cùng các phương án tương ứng, B. Yeltsin đáp: “Tùy các anh (tổ cận vệ) quyết định!”.
Sự hiện diện của người Mỹ trong tình thế này hoàn toàn không mang tính ngẫu nhiên. Từ đầu năm 1991, sau sự kiện quân đội Liên Xô tiến vào tòa nhà Quốc hội Cộng hòa Litva với ý định tái kiểm soát nước cộng hòa ly khai này, chắc chắn đó là lệnh từ Moskva, nhưng M. Gorbachov dính líu vào sự kiện này đến mức độ nào?
Mãi sau này, M.Gorbachev mới thừa nhận cuộc tấn công ấy “xảy ra sau lưng mình” do những người cứng rắn chống đối ông ta trong chính phủ tiến hành mà ông ta không hề biết. Chính quyền Mỹ biết rõ vấn đề chủ nghĩa dân tộc ở 15 nước cộng hòa Xôviết gây rất nhiều tranh cãi và cũng khó để cho M.Gorbachov cho phép 3 nước vùng Baltic theo gương các nước Đông Âu.
Tuy vậy, việc Moskva cố gắng áp đặt sự kiểm soát đối với Litva cũng làm người Mỹ lo lắng. Tổng thống Mỹ George W.H Bush cử Đại sứ Mỹ Jack Matlock đến Điện Kremlin để cảnh báo M.Gorbachov rằng, nếu còn để xảy ra bạo lực trong việc dàn xếp các xung đột dân tộc và quyền lợi của các nước cộng hòa thì quan hệ Xô-Mỹ sẽ bị ảnh hưởng. Tháng 6-1991, người Mỹ nhận được tin mật báo rằng, một số quan chức quốc phòng và an ninh của Liên Xô “có thể sẽ tiến hành đảo chính”.
Tổng thống Bush đã mật báo thông tin này cho M. Gorbachov qua một cuộc điện đàm.

MTA (st)

(nguồn :haingoaiphiemdam.net)