22/10/15

Chính quyền đã không còn biết xấu hổ với người dân của mình...

Con vua thì lại làm vua,
Con sãi ở chùa thì chỉ quét lá đa...


Thời gian qua, sự việc thu hút sự chú ý cũng như bức xúc nhiều nhất của người dân là việc chỉ trong một thời gian ngắn, các cuộc bổ nhiệm, phong chức, thăng chức cho các tài năng trẻ diễn ra liên tục, dồn dập và vào các vị trí chính quyền trong cả nước. Thế nhưng việc để người ta bàn tán riễu cợt lai là chuyện cha con ông quan mới được tân phong. Vì ông bố lại chính là ông quan to nhất vùng, và các tên tuổi được bổ nhiệm vào các chức vụ quan trọng trong bộ máy công quyền, những người được phong vượt cấp, vượt hạn ngạch, lập kỷ lục về tuổi trẻ tài cao đó té ra đều là con cái của các vị quan chức đứng đầu tỉnh, đứng đầu ngành nơi mà con cái họ được bổ nhiệm vào. Chính quyền, qua các việc làm ấu trĩ, lợi bất cập hại và giống như tự bôi lọ nghẹ lên mặt mình của những người lãnh đạo cao nhất ở địa phương, giờ thì dự luận  vẫn tỏ ra trơ trơ, tỏ ra họ không có sợi dây thần kinh mắc cỡ...

Chẳng biết họ có tài cán gì, năng lực đạo đức ra sao nhưng tất cả đều phải công nhận đó là những công tử Đỏ thật may mắn. Ra đời rồi đi trên đường đời luôn có sự nâng đỡ, che chở vững như thạch của :”Công cha như núi Thái Sơn”  thì làm gì các anh không tài năng. Mà cũng chẳng cần tài năng làm gì khi ta có được một người cha làm to như thế. Mà ông bô cũng đâu có cần tài năng mà vẫn leo lên làm to như thế .

Dân tình xôn xao bàn tán, chế riễu những việc bổ nhiệm kỳ quặc như trong một gia đình riêng của họ vậy. Nhưng hình như trong cả bộ máy chính quyền ở những nơi bổ nhiệm chức vụ tào lao đó không hề có người trọng trách nào có được một sự cảm nhận xã hội tinh tế, một nhãn quan chính trị khôn ngoan để có thể chấm dứt những chuyện thị phi không đáng có này. Cũng chẳng hề để ý đến dư luận thì liên tiếp chỉ khoảng hơn tháng nay, các vụ thăng vượt cấp của quá nhiều tài năng trẻ vào các cơ quan hành chính của chính quyền. Và cũng không có một tiếng nói phản biện nào của bất cứ quan chức nào,của tổ chức nào, từ tòa nhà Quộc Hội uy nghi với các ông bà Nghị vốn thét ra lửa, chắc hẳn cũng thấy chướng nhưng không ai lên tiềng, các nhà báo của thông tin đại chúng cũng không đồng ý với việc này nhưng cũng không lên tiếng, Không có tiếng nói có trọng lượng nào phản đối hay không đồng tình với việc làm sai trái cả về luật công chức lẫn luật đời của Đạo Làm Người. Cái kiểu "cha truyền con hứng", làm như chức danh trong chính quyền là quả banh quyền lực và lợi lộc riêng của họ hay phe nhóm họ vậy,

Ta điểm qua vài cái tên nổi bật nhé. Quí tử của ông Bí Thư TP.HCM LêThanh Hải thì được bổ nhiệm làm chủ tịch quận 12, cùng pham vi của một thành phố., còn ông Lê Hoài Quốc Bảo là con ông cựu bí thư Quảng Nam thì được thăng làm GĐ Sở KH trong phạm vi của tỉnh nhà. Còn trong phạm vi quốc gia thì con giai cả, Đông Cung Thái Tử Nguyễn Thanh Nghị,  người kế vị chính dòng Vương Triều Việt Nam mới mang tên Nguyễn Tấn đã tạm chấp một chức lót đường là bí thư một tỉnh nhỏ, chờ ngày phụng mệnh trời ra làm việc lớn. Tất cả các tài năng trên đều trên dưới 30 tuổi.

Đã từ lâu rồi, những sự bổ nhiệm vào các chức vụ trong chính quyền đã trở thành một thứ bổng lộc, một thứ chiến lợi phẩm được trao cho người có công có sức vậy. Người lập công, lập quốc thì ăn phần to, người ăn theo đóng góp thì ăn phần nhỏ hơn. Kể cả đám khuyển mã ăn theo thì cũng đều có phần xương hay xái. Ban phát chức quyền như thế cũng là để ban phát bổng lộc, dù có nói dưới hình thức nào. Chính quyền cấp cao hơn đã làm gương cho các chính quyền cấp dưới, và ngành dọc nhìn ngành ngang, học hỏi và cứ cái đà như thế tiến tới. Những con người trẻ tuổi và tài năng của nước Việt Nam ta bỗng đâu sanh ra nhiều như muỗi sau mưa, và chuyện bổ nhiệm, thăng chức các tài năng ấy vào các chức vụ béo bổ trong chính quyền diễn ra nhiều  như ruồi sau cỗ vậy.

Đó là điều rất tai hại cho chính quyền và nhất là cho người dân, người công chức dưới quyền các vị ,mà chức vụ cha truyền con nối như thế. Hại như thế nào thì  nói cả một pho sách cũng chưa nói hết cái tai hại mà việc bổ nhiệm theo kiểu lề Vua, thói Chúa  này mang chỉ hai dân hai nước mà thôi. Việc bổ nhiệm như thế sẽ triệt tiêu động lực đấu tranh công bằng của cả một tầng lớp thanh niên ưu tú nhưng chỉ vì không xuất thân tốt như các Thái Tử Đảng kia,

Vì xã hội Việt Nam mà chúng ta đang sống đã thay đổi, và đang thay đổi và sẽ còn thay đổi nhiều hơn nữa, và hướng về những điều tốt đẹp, dân chủ và công bằng cho tất cả người dân Việt Nam có cơ hội, có quyền tham chính để phụng sự đất nước cũng như để mưu cầu hạnh phúc cho gia đình họ. Thì không ai lại tán thành cái việc phân chia đẳng cấp, thành phần, hay lý lịch vô lý mà 40 năm qua vẫn còn treo trên đầu trên cổ người dân. Và qua cái việc bổ nhiệm vô tội vạ vừa qua thì bóng dáng của sự phân biệt đối xử, những rào cản vô lý khi đặt những kẻ con ông cháu cha  vào những cái ghế quyền lực, và ngăn chặn những con người trẻ trung tài năng khác tiến thân. Thực tình thì tôi không tin các anh chị con ông cháu cha đó là người tài, vì người tài sẽ từ chối các cơ hội như thế mà cha mẹ họ trao cho . Và nếu họ có cả tâm, cả đức, những phẩm chất cần thiết cho công việc thì những cái đó cùng không còn nữa khi họ là dân COCC.

Nhưng đó không phải là những việc làm ngốc của những anh ngốc, mà là việc làm của những kẻ khôn đang hành động cực kỳ khôn ngoan cộng với sự lỳ lợm, tham lam của một phường thảo khấu mãi lộ đang chia chác quyền tiền. Và phân chia thế nào là quyền của họ. Tâm lý của họ vẫn là tâm lý chiến thắng của đám lục lâm xuống núi chiếm được thành. Họ chiếm được cái gì thì cái đó hiển nhiên là của họ, đó là một cái thành quách, hay một quốc gia thì cũng giống như nhau. Cái nơi ấy sẽ đương nhiên là chiến lợi phẩm của kẻ chiến thắng. Kẻ đó sẽ thụ hưởng nó, đặt ra luật và rồi lại truyền ngôi cho con cháu, đồng chí thụ hưởng nữa cho đến đời sau kiếp sau.  Những việc bổ nhiệm như đã nói cũng chỉ đang đi theo một đường hướng rõ ràng. Các chức sắc trong làng thì cứ ăn chia theo lệ. Bọn đinh, lệ mõ tuần  thì vòng ngoài, chiếu dưới theo lệ mà đớp hít cho xong phần ngồi cỗ bàn. Còn để chỗ phân chia cỗ bàn mâm trên thì để  cho các bậc tiên chỉ làng vừa ăn nhậu no say, vừa đấu đá kiếm chức Chánh, Phó Tổng của làng chứ. Quyền cao chức trọng, mâm cao cỗ đầy, kẻ tung người hô thì cũng từ cái những cái chức quan viên đầu làng đó mà ra. Bọn dân đen cứ rủa thì đường tat a cứ đi..

Và dĩ nhiên trong những cái khôn ngu, tính toán của việc đặt những ông trời cha, ông trời con lên đầu người dân thì cũng là thái độ coi người dân của mình như cỏ rác, hay như những con cừu hiền lành trong đàn cừu ngoan ngoãn như trước kia. Từ trước đến giờ những kẻ chủ chăn đã cho đám cừu ngoan thấy quyên lực của họ là không giới hạn, và việc một người làm quan thì cả ba họ được nhờ, thì qua việc bổ nhiệm lạ đời này thì người dân Việt Nam mới thấy quyền lực của họ là không giới hạn thật. Kể cả không giới hạn của sự vô liêm sỉ,,,

Chẳng cần ai bảo ai, chẳng ai xúi ai thì giờ đây tuyệt đại đa số người dân Việt Nam đều bất mãn, căm ghét cái bổ nhiệm thăng thưởng cho con cháu người thân một cách ngớ ngẩn, coi thường công luận và cho thấy dường như căn bệnh ấu trĩ  tả khuynh vẫn còn bám vào người các lãnh đạo cao nhất của chính quyền, như những vết ghẻ của cái thời nằm rừng, cũng như vết phèn chua của cái thuở cấy lúa đồng chiêm trũng cách nay không xa.. Nên thật dễ dàng để thấy có những việc không nên làm, không được làm mà một ông quan chức to trong chính quyền vẫn làm, và không gặp sự phản đối nào thì cả một bộ máy trong chính quyền ấy đều đã bị nhiễm vi rút Vô Cảm nặng nề lắm rồi. Nhất là các vi rút có tên là Lương Tâm, Danh Dự hay Đạo Làm Người. Cha con của những ông truyền ngôi cho con đó không thấy ngượng, mà những người biết chuyện rồi làm ngơ thì cũng không thấy xấu hổ.

Không phải tất cả, nhưng có đến phân nửa những ông quan to trong chính quyền đã không còn biết xấu hổ là gì, phân nửa các ông còn lại thì không biết ngượng trước các việc làm đáng xấu hổ, đáng ngượng trên…

MTA

20/10/15

Lich sử ít biết đến được biết đến về biểu tượng Swastika (卐) - Chữ thập ngoặc



Rất nhiều người thắc mắc không hiểu tại sao chữ Vạn của Phật giáo lại có hình thức trùng lặp với “chữ thập ngoặc” của Đức quốc xã. Gọi là “chữ”, nhưng thực ra cả hai đều là những biểu tượng. Người Việt gọi hai biểu tượng này bằng hai tên gọi khác nhau, nhưng người Tây phương đều gọi là Swastika, vì cả hai có hình thức bề ngoài hoàn toàn giống nhau.

Một số tài liệu Phật giáo, thậm chí cả một số Bách khoa toàn thư, đã cố gắng chứng minh rằng hai biểu tượng này có hình dạng khác nhau – khác nhau về chiều quay và khác nhau về tư thế thẳng đứng hoặc nghiêng: Chữ Vạn quay thuận chiều, “chữ thập ngoặc” quay ngược chiều; Chữ Vạn thẳng đứng, “chữ thập ngoặc” đổ nghiêng. Nhưng thực tế không đúng như thế: Chữ “Vạn” của Phật giáo sử dụng cả hai chiều quay trái ngược nhau, “chữ thập ngoặc” của Đức quốc xã sử dụng cả hình đứng lẫn hình nghiêng. Tóm lại về hình thức bề ngoài, hai biểu tượng này hoàn toàn giống nhau. Vì thế, cần tìm hiểu vì sao có sự “trùng lặp” khó hiểu như vậy. Tuy nhiên, tìm hiểu lịch sử của Swastika chúng ta sẽ thấy rằng:

● Swastika đã xuất hiện từ thời cổ đại, ngay từ đầu nó không chỉ là biểu tượng của riêng Phật giáo, mà là biểu tượng của rất nhiều nền văn hoá và tôn giáo khác nhau.

● Swastika của Đức quốc xã hoàn toàn không liên quan gì đến chữ Vạn của Phật giáo, mà chỉ liên quan đến Swastika của người Aryan.
Vậy để tránh nhầm lẫn, bài viết này sẽ sử dụng tên gọi chung của biểu tượng này là Swastika. Chữ Vạn sẽ chỉ được dùng khi đề cập đến Swastika của Phật giáo.

Vậy Swastika có xuất xứ từ đâu? Ý nghĩa nguyên thuỷ của nó là gì? Người Aryan là ai? Tại sao Hitler lại sử dụng Swastika của người Aryan? Đó là những câu hỏi cần được trả lời.




PHẦN I: TỪ SWASTIKA ĐẾN ARYAN

I.1-Hành trình và ý nghĩa nguyên thuỷ của Swastika

Swastika là một trong những biểu tượng cổ xưa nhất mà loài người đã sử dụng. Nó đã được phát hiện trên những di chỉ khảo cổ có độ tuổi ít nhất hơn 3000 năm tại khu vực thung lũng nằm giữa hai con sông Euphrates và Tigris và một số vùng trong thung lũng Indus. Swastika cũng xuất hiện trên các bình gốm và những đồng xu cổ trên đống đổ nát của thành T’roa (Troy), chứng tỏ nó đã được sử dụng ít nhất từ 1000 năm trước C.N.


Mặc dù chưa ai vẽ ra được một “lộ trình di cư” chính xác của Swastika qua các thời đại, nhưng có thể biết chắc chắn rằng trải qua hàng ngàn năm, Swastika đã có mặt ở hầu khắp các lục địa Á, Âu, Mỹ. Vì thế, Swastika có rất nhiều tên gọi khác nhau. Tiếng Hán gọi là “wan” (Vạn), tiếng HyLạp – tetraskelion, tiếng Pháp – croix gammé, tiếng Anh – fylfot, tiếng Đức – hakenkreuz, tiếng Ý – croce uncinata, v.v… Nhưng tên gọi phổ biến nhất vẫn là swastika, bắt nguồn từ chữ svastika (đọc là suastika) trong tiếng Sanscrit – ngôn ngữ cổ Ấn Độ.



Trong tiếng Sanscrit: Sv, đọc là su, có nghĩa là tốt lành (good, well); asti có nghĩa là tồn tại (to be); ka là một tiếp vĩ ngữ thể hiện một sự vật hay sự việc nào đó. Vậy swastika là một sự vật hay một sự việc tồn tại tốt lành, hoặc có trạng thái tốt lành (well-being).

Charles Messenger trong cuốn “Lịch sử Thế Chiến II bằng hình” (The Pictorial History of World War II) nói rằng Swastika thể hiện sự phồn thịnh (prosperity) và sáng tạo (creativity).

Swastika trong nghệ thuật của người Hindu có các dấu chấm trong các cung phần tư, nhưng Swastika của Hindu giáo (Ấn Độ giáo) không có những dấu chấm này.





Phật giáo là nơi khởi nguồn của biểu tượng Swastika tại Châu Á. Trong các kinh Phật, Swastika thường xuất hiện ngay ở phần mở đầu. Trong tiếng Hán, chữ Vạn (wan) biểu thị cái bao trùm tất cả (all) và sự vĩnh hằng (eternity).

Cuốn “Phật Học Quần Nghi” xuất bản tại Đài Loan viết:

Theo truyền thuyết cổ Ấn Độ, phàm là thánh vương chuyển luân cai trị thế giới đều có 32 tướng tốt. Phật là một thánh vương trong Pháp nên cũng có 32 tướng tốt. Điều này được ghi trong kinh Kim Cương Bát Nhã. Chữ Vạn là một trong 32 tướng tốt của Phật. Theo kinh Trưòng A Hàm thì đó là tướng tốt thứ 16 nằm trước ngực của Phật.




Tại Nhật Bản, chữ Vạn của Phật giáo được gọi là manji, thể hiện Dharma – sự hài hoà và cân bằng âm dương trong vũ trụ (giống tư tưởng của Dịch và Lão học) – trong đó manji quay trái được gọi là một omote manji, thể hiện tình yêu và lòng nhân từ, khoan dung; manji quay phải được gọi là ura manji, thể hiện sức mạnh và trí thông minh.

Tại Nam Âu, khu vực tiếp giáp với châu Á, dấu vết Swastika cũng đã được tìm thấy trong các công trình kiến trúc thuộc nền văn hoá Byzantine – nền văn hoá thuộc khu vực Biển Đen và Địa Trung Hải kéo dài từ thế kỷ thứ 7 trước CN đến tận thời trung cổ.

Dấu vết Swastika cũng xuất hiện trong các đền đài thuộc nền văn hoá Celtic (đọc là Seltic hoặc Keltic) – nền văn hoá đậm nét Âu châu phi Địa Trung Hải, có xuất xứ từ Tây và Trung Âu từ khoảng 1000 năm trước CN kéo dài mãi đến nhiều thế kỷ sau CN, ảnh hưởng sâu rộng khắp Âu châu. Chủ nhân của nền văn hoá này là người Celt – người nói tiếng Celtic – những người nổi tiếng thông minh, yêu tự do, dũng cảm trong chiến đấu.

Cần đặc biệt chú ý rằng ngôn ngữ Celtic là một bộ phận của một nhóm ngôn ngữ rộng lớn hơn được gọi là ngôn ngữ Aryan hoặc ngôn ngữ Ấn-Âu. Vậy ngôn ngữ Aryan và ngôn ngữ Ấn-Âu là gì?


I.2-Ngôn ngữ Aryan và người Aryan:

Những người ít quan tâm đến ngôn ngữ học có thể sẽ rất ngạc nhiên khi biết rằng hầu hết các thứ tiếng Âu châu ngày nay hoá ra lại có chung một thuỷ tổ với tiếng Hindi (tiếng Ấn Độ).

Thuỷ tổ ấy là ngôn ngữ Aryan, hoặc ngôn ngữ Ấn-Âu (Indo-European languages) – ngôn ngữ của những cư dân sinh sống từ xa xưa trên vùng cao nguyên Iran ở Nam Á, giữa vùng biển Caspian và vùng núi Hindu Kush ngày nay. Những cư dân này tự gọi mình là người Aryan.

Vào khoảng 1500 năm trước CN, người Aryan đã xâm chiếm vùng tây bắc Ấn Độ. Họ mang theo một nhánh ngôn ngữ của họ đến đó, và trong suốt 1000 năm đầu tiên tại Ấn, họ đã hoàn thiện ngôn ngữ này đến mức đã tìm ra cách để biểu thị bằng chữ viết. Đó chính là ngôn ngữ Sanskrit mà ngày nay ta gọi là tiếng Ấn Độ cổ. Tiếng Hindi, ngôn ngữ chính của Ấn Độ ngày nay, cũng bắt nguồn từ ngôn ngữ Sanskrit. Chính nhờ các văn bản cổ viết bằng tiếng Sanskrit vẫn còn được lưu giữ trong các di tích tôn giáo và văn hoá của người Hindu nên ngày nay chúng ta mới biết được lịch sử của người Aryan. Những văn bản này mô tả người Aryan có nước da sáng mầu (fair-skinned), có máu mê chiến tranh (warlike), và bản thân chữ Aryan trong tiếng Sanskrit có nghĩa là người phú quý (nobleman) hoặc chúa tể đất đai (lords of land)!

Một nhánh khác của người Aryan đã di cư sang xâm chiếm Âu châu và truyền bá ngôn ngữ của họ ở đó. Vì thế ngôn ngữ của phần lớn người Âu châu ngày nay rất giống nhau – thực ra hầu hết người Âu đều nói một thứ ngôn ngữ có nguồn gốc Aryan (trừ tiếng Thổ, Hung, xứ Basques, Phần Lan, LátVia, Estonia, và một vài nhóm nhỏ ở Nga).

Vì thế ngôn ngữ Aryan được gọi là ngôn ngữ Ấn-Âu, người Aryan được gọi là người Ấn-Âu tiền sử (proto-Indo-European). Người Ấn ở miền bắc Ấn Độ còn được gọi là người Ấn-Âu. Họ cao lớn, nước da sáng mầu, trong khi người Ấn ở miền nam có nguồn gốc Dravidian, với vóc dáng nhỏ bé hơn, và nước da tối mầu hơn.

Việc khám phá ra ngôn ngữ Aryan vào những năm 1790 được coi là một trong những khám phá vĩ đại nhất của ngôn ngữ học. Người Âu châu thời đó đã sửng sốt khi biết rằng không chỉ các dân tộc ở Âu châu, mà ngay cả một xứ “xa tít mù tắp” vào thời đó như Bắc Ấn, hoá ra cũng có chung một nguồn gốc ngôn ngữ với họ, thậm chí chung một tổ tiên với họ. Từ đó, các nhà khảo cổ học lao vào nghiên cứu mối liên hệ giữa người Âu châu tiền sử với người Aryan cổ đại.

Trong bài “Lịch sử lần theo chữ Vạn” (đã dẫn), tôi đã đặt dấu hỏi: “Dân tộc Iran ngày nay và người Aryan xưa kia có liên hệ gì với nhau không? Về mặt âm ngữ, hai từ Iran và Aryan rất giống nhau. Về mặt lịch sử, chẳng lẽ người Aryan đi chinh phục Ấn Độ và Âu châu hết mà không để lại một chi nhánh nào của dòng họ ở nơi xuất xứ là cao nguyên Iran hay sao?”.

Và tôi đã tìm thấy câu trả lời. Bách khoa toàn thư Wikipedia viết: “Vào khoảng nửa đầu của thiên niên kỷ thứ nhất trước CN, người Aryan đã có mặt trên cao nguyên Iran và tiểu lục địa Ấn Độ. Thực ra, thuật ngữ Iran là kết quả của thuật ngữ Ariana (Airyana) có nghĩa là xứ sở của người Aryan. Nhóm ngôn ngữ Aryan có hai nhánh chủ yếu: Ngôn ngữ Sanskrit và ngôn ngữ cổ-Iran… trong tiếng Ba-Tư thời trung cổ, chúng ta thấy chữ Ariana được gọi là Eran, và cuối cùng trong tiếng Ba-Tư hiện đại, được gọi là Iran”.

Nhà triết học nổi tiếng Hegel từng viết trong cuốn Triết học Lịch sử (The Philosophy of history) rằng: “Lịch sử của loài người bắt đầu từ lịch sử của Iran”. Các di chỉ khảo cổ tại Tây Nam Á cho thấy nền văn minh Iran có trước nền văn minh Ai Cập quãng 3000 năm, khởi đầu ít nhất từ 12.000 năm trước đây.

Tóm lại, người Aryan một phần đã chinh phục Bắc Ấn, một phần ở lại Iran, và một phần đã di cư sang Âu châu và chinh phục hầu khắp Âu châu, lai tạp với cư dân bản địa Âu châu cổ đại để dần dà trở thành người Âu Mỹ như ngày nay.

Tuy nhiên, khái niệm “người Aryan” dần dần đã bị những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc biến tướng thành khái niệm “chủng tộc Aryan”, từ đó dẫn tới những hậu quả chính trị xã hội vô cùng tệ hại.


I.3-Về cái gọi là “chủng tộc Aryan”:

Như độc giả đã thấy, các văn bản đã cổ gắng mô tả người Aryan là những người có những “ưu điểm vượt trội”: những người “phú quý” hoặc “chúa tể đất đai”! Trong thực tế, người Aryan đã chinh phục một dải đất vô cùng rộng lớn từ Á sang Âu!

“Thành tích vượt trội” của người Aryan đã làm nức lòng những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc ở châu Âu cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Trong con mắt của họ, “người Aryan” đồng nghĩa với “chủng tộc Aryan” (Aryan race) – một “chủng tộc ưu tú hơn” (superior race) so với bất kỳ chủng tộc nào khác. Ngay từ thời đó, tư tưởng này đã bị phê phán. Nhà Sanskrit học lỗi lạc Max Muller từng nhấn mạnh: “Khi tôi nói đến chữ Aryan, tôi không hề có ý định đề cập đến những khái niệm liên quan đến hộp sọ”. Nói cách khác, theo những tiêu chuẩn của chủng tộc học, không hề có cái gọi là “chủng tộc Aryan”, mà chỉ có người Aryan mà thôi. Nhưng bất chấp mọi giải thích, những kẻ có đầu óc dân tộc tiếp tục truyền bá khái niệm “chủng tộc Aryan” như một sự thật lịch sử và khoa học.

Đến những năm 1920, chủ nghĩa quốc xã Đức đã nâng lý thuyết “chủng tộc Aryan lên đến mức cực kỳ phản động: “Chủng tộc Aryan là chủng tộc thượng đẳng (master race) có quyền thống trị thế giới”. Lý thuyết này dựa trên nền tảng của một học thuyết được coi là “khoa học” vào thời đó: Học thuyết Đác-uyn-xã-hội (Social-Darwinist Ideology) – một học thuyết chủ trương áp dụng nguyên lý đấu tranh sinh tồn của Darwin vào trong xã hội loài người.

Nhưng tại sao Đức quốc xã lại chọn Swastika làm biểu tượng của chúng?

Trước khi biết rõ bối cảnh nào đã dẫn Hitler tới chỗ đích thân ông ta chọn Swastika làm biểu tượng cho đảng quốc xã, đọc giả cần biết rõ sự kiện sau đây:

Cuối thế kỷ 19, nhà khảo cổ học nổi tiếng Heinrich Schliemann, người đã khám phá ra Swastika trên đống đổ nát của thành T’roa, trong một công trình nghiên cứu công phu kết hợp khảo cổ học với Sanscrit học, đã đi đến một kết luận vô cùng quan trọng rằng Swastika là một biểu tượng đặc trưng Ấn-Âu. Nói cách khác:

Swastika là biểu tượng đặc trưng của người Aryan!


PHẦN II –TỪ HỌC THUYẾT BỆNH HOẠN ĐẾN SWASTIKA CỦA QUỶ DỮ

Lý thuyết “chủng tộc thượng đẳng” (master race) của chủ nghĩa quốc xã (nazism) là một quái thai trong lịch sử loài người, nhưng quái thai ấy không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên. Nó là con đẻ của một “bà mẹ bệnh hoạn” – Học thuyết Đác-uyn-xã-hội (Social-Darwinist Ideology) – và một “ông bố điên rồ” – Tư tưởng phục thù (Feeling of Revenge) trong xã hội Đức sau Thế Chiến I.

Khi đã có Học thuyết Đác-uyn-xã-hội làm cơ sở “khoa học” để suy tôn “chủng tộc Đức” thành “chủng tộc thượng đẳng có quyền thống trị thế giới”, chủ nghĩa quốc xã chỉ còn thiếu một lá cờ với biểu tượng thích hợp. Nhưng đích thân Hitler đã tìm thấy biểu tượng đó: Swastika của người Aryan!

Vậy trước hết hãy tìm hiểu xem Học thuyết Đác-uyn-xã-hội là gì?


II.1-Học thuyết Đác-uyn-xã-hội:

Học thuyết Đác-uyn-xã-hội là lý thuyết cho rằng xã hội loài người tiến hoá thông qua quá trình đấu tranh sinh tồn, trong đó chủng tộc nào thông minh hơn, khoẻ mạnh hơn, thích nghi với môi trường tốt hơn sẽ là chủng tộc có quyền tồn tại; chủng tộc nào dốt nát, ốm yếu, kém thích nghi với môi trường sẽ bị đào thải. Đây là kết quả của việc áp dụng một cách máy móc Thuyết tiến hoá của Darwin vào trong xã hội loài người.

Không phải ngẫu nhiên mà có sự áp dụng máy móc đó. Đây là hệ quả của việc áp dụng tràn lan chủ nghĩa thực chứng (positivism) vào trong xã hội học.

Chủ nghĩa thực chứng do Auguste Comte (1798-1887) nêu lên từ những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 19, trong đó cho rằng một hệ thống lý thuyết chỉ trở thành khoa học thực sự khi nó có thể kiểm chứng được bằng thực nghiệm trong thực tế.

Với thắng lợi trong khoa học tự nhiên, chủ nghĩa thực chứng đã tạo ra tinh thần lạc quan mạnh mẽ trong thế kỷ 19, thúc đẩy các nhà xã hội học tìm cách giải thích hành vi của số đông (en masse behaviour) bằng những quy luật của tự nhiên.

Đúng lúc đó, Thuyết tiến hoá của Darwin ra đời. Những kẻ có đầu óc chủng tộc lập tức áp dụng Thuyết tiến hoá của Darwin để giải thích sự tiến hoá của xã hội loài người, khẳng định rằng về cơ bản xã hội loại người cũng phải tiến hoá theo quy luật của sinh giới nói chung. Đó chính là Học thuyết Đác-uyn-xã-hội.


Học thuyết Đác-uyn-xã-hội có liên quan gì đến cá nhân Darwin không?

Trước đây tôi luôn luôn nghĩ rằng Darwin chỉ nêu lên quy luật tiến hoá trong xã hội loài vật mà thôi. Việc đem lý thuyết của ông áp dụng một cách máy móc vào xã hội loài người là việc làm của những kẻ có đầu óc kỳ thị chủng tộc. Nhưng gần đây, tôi phải suy nghĩ rất nhiều khi đọc bài báo “What Darwin taught Hitler?” (Darwin đã dạy Hitler cái gì?) của Grenville Kent, trên tạp chí SIGNS of the Times ở Úc, số tháng 10 năm 1996, trong đó tác giả đã trích nguyên văn một phát biểu của Darwin như sau:

“Trong một tương lai không xa lắm, có thể đo bằng số thế kỷ, các chủng tộc văn minh của loài người hầu như sẽ tiêu diệt và thay thế các chủng tộc man rợ trên thế giới”.

Có thật Darwin đã nói như thế hay không? Trong bài báo nói trên, Kent nói rõ rằng câu nói này nằm trong cuốn On the Origin of Species (Về nguồn gốc các loài), tác phẩm nổi tiếng nhất của Darwin. Nếu đúng như thế thì không thể trách tại sao ở Phương Tây hiện nay, một nửa giới khoa học chống lại Darwin. Liệu một lý thuyết thực sự khoa học có thể bị một nửa thế giới chống lại nó hay không? Điều này chúng ta không hề thấy ở các học thuyết khác, như Cơ học Newton, Thuyết tương đối của Einstein, Cơ học lượng tử của Bohr-Heisenberg, v.v.

Ngay từ năm 1934, Lý Tôn Ngô đã viết trong cuốn “Hậu Hắc Học” rằng “Đác-Uyn phát minh (ra học thuyết) sinh vật tiến hoá cũng như Niu-tơn phát minh ra “Sức hút của quả đất”, là những công thần lớn của giới học thuật, điều ông nói “Muốn sinh tồn phải cạnh tranh mạnh được yếu thua” là một điều không khỏi lệch lạc, và cần uốn nắn lại”.

Than ôi, nhân loại chưa kịp uốn nắn thì đã xảy ra cuộc Đại chiến thế giới lần thứ hai thảm khốc chưa từng có – một cuộc chiến tranh bắt nguồn trực tiếp từ một đầu óc bệnh hoạn về đấu tranh sinh tồn dựa trên học thuyết Darwin!

Những người quen sùng bái Darwin như ông thánh sẽ giẫy nẩy lên khi thấy ông thánh của mình bị kết tội, nhưng chắc chắn họ không thể tranh cãi với Kent khi ông đặt dấu hỏi chua chát “Nếu Darwin đúng thì tại sao Hitler lại không được bào chữa về mặt khoa học?”. Theo Kent, chủ nghĩa quốc xã Đức đã từng lý luận rằng “Nếu chúng ta xuất thân từ động vật thì tại sao chúng ta không hành động theo quy luật (đấu tranh sinh tồn) đó?”. Thế đấy, dưới con mắt của chủ nghĩa quốc xã, con người trước hết là một động vật, do đó mọi hành vi trước hết phải tuân theo quy luật đấu tranh sinh tồn – một quy luật bất khả kháng của tự nhiên (!!!). Nếu Darwin đúng và nếu con người là một bộ phận của thế giới động vật thì cớ gì con người không tuân thủ những “định luật tiến hoá” của Darwin? Đó là một câu hỏi quá khó đối với tư duy khoa học logic máy móc – kiểu tư duy chủ yếu đến nay vẫn thống trị trong thế giới khoa học!

Ngày nay, khi Học thuyết Đác-uyn-xã-hội đã lộ nguyên hình là một học thuyết bệnh hoạn, không ai có thể chấp nhận sự vay mượn tư tưởng từ một học thuyết thuần tuý sinh học để đem áp dụng vào xã hội loài người một cách thô thiển và đơn giản đến như thế. Nhưng than ôi, đó lại là một sự thật đã diễn ra vào những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20, chúng ta không thể được phép quên!

Thật vậy, vào đầu thế kỷ 20, trường Đại học tổng hợp Berlin chật cứng sinh viên ngồi nghe các giáo sư trình bầy Học thuyết Đác-uyn-xã-hội. Trong đám thính giả có rất nhiều nhà ngoại giao, nhà quân sự, thương gia và các lãnh tụ của nhà nước Đức. Một trong số đó là Heinrich Himmler, kẻ sau này trở thành cánh tay phải của Hitler, đứng đầu bộ máy SS – bộ máy tàn sát chủng tộc khét tiếng của Nazi.

Bối cảnh ấy thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và chủ nghĩa phục thù ở Đức phát triển mạnh mẽ, tạo nên một cơ sở xã hội để đảng quốc xã thắng thế vào cuối những năm 1920, đầu 1930, dẫn tới sự ra đời của Đế chế Thứ III (The Third Reich) với việc Adolf Hitler lên cầm quyền ở Đức năm 1933, thực hành một chính sách chủng tộc thảm khốc chưa từng có trong lịch sử.


II.2-Chủ nghĩa chủng tộc và phục thù:

Bước vào thế kỷ 19, trong khi các nước như Anh, Pháp đã trở thành những đế quốc lớn, hùng mạnh, thì Đức lúc đó vẫn bao gồm các tiểu vương quốc rời rạc. Mãi đến năm 1871 mới thống nhất thành một quốc gia. Sự tụt hậu này tạo cho giới trẻ Đức thời đó một cảm giác tủi hổ, bất mãn. Từ đó nước Đức có xu thế muốn vươn lên, chứng tỏ cho thế giới thấy mình không những không thua kém ai, mà còn vượt trội so với kẻ khác. Xu thế ấy là một trong những nguyên nhân dẫn tới cuộc Thế Chiến I. Nhưng thất bại thảm hại của Đức trong cuộc thế chiến này lại càng đẩy thanh niên Đức lún sâu vào tâm trạng tủi hổ và bất mãn sâu sắc hơn nữa.

Để chống lại căn bệnh tủi hổ này, những nhà lý luận có đầu óc chủng tộc đã cố gắng xới lên những học thuyết đề cao chủng tộc Đức, trong khi các nhà chính trị theo chủ nghĩa dân tộc lại tuyên truyền cho chủ nghĩa phục thù, hứa hẹn sẽ lấy lại sức mạnh cho nước Đức, đưa nước Đức lên vị trí lãnh đạo thế giới.

Trong bối cảnh ấy, lịch sử người Aryan và Swastika cùng với Học thuyết Đác-uyn-xã-hội đã trở thành “những nguyên liệu quý giá” để những nhà lý thuyết và chính trị theo chủ nghĩa chủng tộc ở Đức chế biến nên một chủ thuyết chủng tộc trong đó khẳng định rằng người Aryan chính là thuỷ tổ của người Đức, người Đức chính là hậu duệ thuần chủng nhất và tinh tuý nhất của người Aryan, và do đó xứng đáng để lãnh đạo thế giới.

Một trong những kẻ đi tiên phong trong học thuyết này là Alfred Rosenberg. Rosenberg coi “chủng tộc Aryan là chủng tộc nằm ở bậc thang cao nhất trong “hệ thống các bậc thang chủng tộc” (racial hierarchy), trong khi “chung tộc Do Thái” nằm ở tầng dưới cùng và là một mối đe doạ đến “nền văn minh thuần nhất Aryan của Đức”, do đó cần phải bị đào thải. Hơn thế nữa, “chủng tộc Aryan” là chủng tộc duy nhất có khả năng sáng tạo nên những nền văn hoá và văn minh đích thực, trong khi các chủng tộc khác chỉ có khả năng giữ gìn hoặc phá hoại những nền văn hoá đó mà thôi. Rosenberg sau này đã trở thành cánh tay phải của Hitler về tuyền truyền và giáo dục tư tưởng quốc xã, đồng thời làm bộ trưởng quốc xã phụ trách khu vực chiếm đóng ở Liên Xô, cuối cùng bị đồng minh bắt năm 1945, bị xử tử hình tại toà án tội phạm chiến tranh Nuremberg ngày 16-10-1946.

Từ điển Lịch sử thế giới (Dictionary of World History) do Chambers của Anh xuất bản năm 1994 viết: “Nước Đức đã ôm lấy cái khái niệm phi khoa học về chủng tộc Đức như là bộ phận tinh tuý nhất trong chủng tộc Aryan, trong số những người cùng nói thứ ngôn ngữ Ấn-Âu, và rằng họ có trách nhiệm với tiến bộ của nhân loại (trang 60)… Chủ nghĩa quốc xã khẳng định rằng thế giới được chia thành một hệ thống nhiều thang bậc chủng tộc: Người Aryan, trong đó người Đức là đại diện thuần chủng nhất, là chủng tộc thượng đẳng về văn hoá, trong khi người Do Thái là thấp kém nhất. Điều đó cũng có nghĩa là người Do Thái sẽ bị người Aryan tiêu diệt loại bỏ khỏi thế giới… (trang 661)”.


Một khi đã tự nhận mình là hậu dệ tinh tuý nhất của người Aryan thì đương nhiên, những kẻ theo chủ thuyết chủng tộc Đức cũng sẽ tự nhận Swastika là biểu tượng của họ, bởi như chúng ta đã biết: Nhà khảo cổ học Heinrich Schliemann đã khám phá ra rằng Swastika là một biểu tượng đặc trưng Ấn-Âu, tức đặc trưng của người Aryan. Đó là lý do để chủ nghĩa quốc xã đã chộp lấy Swastika để biến thành biểu tượng của chúng.


II.3-Swastika rơi vào tay quỷ dữ:

Bách khoa toàn thư Wikipedia cho biết:

Cuối thế kỷ 19, Swastika của người Aryan đã xuất hiện trong tạp chí về chủng tộc xuất bản định kỳ của những người Đức theo chủ nghĩa quốc gia và là biểu tượng chính thức của những vận động viên thể thao Đức.


Đầu thế kỷ 20, Swastika của người Aryan đã trở thành một biểu tượng chung của chủ nghĩa dân tộc Đức (German nationalism) và có thể tìm thấy ở nhiều nơi như biểu tượng của Wandervogelb – một phong trào tuổi trẻ Đức; trên tạp chí Ostarra, một tạp chí định kỳ bài Do Thái của Joerg Lanz von Liebenfels; trên nhiều đơn vị Freikorps khác nhau; và như một biểu tượng của Hội Thule.

Nhưng Swastika chỉ chính thức trở thành biểu tượng của quỷ dữ kể từ khi Hitler chính thức sử dụng biểu tượng đó.

Sau hai lần thi trượt vào Đại học Mỹ thuật vì bị phê là “thiếu tài năng”, Hitler rất hậm hực bất mãn. Năm 1909, Hitler rơi vào cảnh nghèo túng, nhưng được một người Do Thái là Hanisch giúp kiếm sống bằng cách vẽ bưu ảnh để bán cho du khách (tổng cộng trước Thế Chiến I, hắn đã bán được 2000 bưu thiếp). Trớ trêu thay, chẳng bao lâu sau Hitler đã phản bội lại người giúp đỡ mình khi hắn say mê với những lý thuyết về chủng tộc Aryan, coi người Do Thái là kẻ thù của người Aryan và phải chịu trách nhiệm về những khủng hoảng trong nền kinh tế Đức.

Đến những năm 1920, khi Hitler trở thành lãnh tụ đảng quốc xã, hắn thấy đảng này cần phải có một lá cờ và biểu tượng riêng của nó.

Năm 1923, Hitler bị phạt tù 5 năm vì một hành động chống chính phủ. Trong tù, hắn viết tác phẩm “Mein Kampf” (Cuộc đấu tranh của tôi), trong đó viết: “Lá cờ mới phải là một biểu tượng của cuộc đấu tranh riêng của chúng ta, đồng thời có hiệu quả cao như một áp-phích tuyên truyền”. Không những thế, vốn xuất thân là một thợ vẽ, Hitler còn thiết kế ra hình ảnh cụ thể của lá cờ đó, trong đó Swastika của người Aryan được đặt chính giữa trên một hình tròn mầu trắng. Hắn viết trong Mein Kampf: “Mầu trắng thể hiện tư tưởng dân tộc, biểu tượng Sawstika thể hiện sứ mạng đấu tranh vì thắng lợi của người Aryan, đồng thời nói lên sự chiến thắng của tinh thần sáng tạo, một tinh thần đã và sẽ mãi mãi chống lại bọn Do Thái”.



Chẳng bao lâu sau, Mein Kampf đã nhanh chóng trở thành cuốn “kinh thánh” của đảng quốc xã, chứa đựng tất cả các giáo điều của chủ nghĩa quốc xã, bao gồm cả những kỹ thuật tuyên truyền và kế hoạch làm thế nào để trước tiên chiếm lĩnh nước Đức, sau đó là chiếm lĩnh châu Âu.


II.4-Kết:

Đến đây độc giả thấy rõ chính đích thân Hitler đã chọn Swastika của người Aryan làm biểu tượng cho đảng quốc xã. Từ năm 1933, khi đảng quốc xã thắng cử ở Đức, Hitler trở thành quốc trưởng của Đế Chế Thứ III, thì Swastika trở thành biểu tượng của cả nhà nước quốc xã và quân đội quốc xã. Kể từ đó, Swastika bị coi là biểu tượng của quỷ dữ. Sau Thế Chiến II, Swastika bị cấm phô bầy tại rất nhiều nước Âu châu.

Trong thời đại hiện nay, khi sự giao lưu trao đổi văn hoá giữa các quốc gia, các sắc tộc, các vùng địa lý, các truyền thống văn hoá khác nhau ngày một phát triển, thì hai nhận thức khác nhau về Swastika đã gây nên những hiểu lầm và va chạm rất đáng tiếc, thậm chí có nơi đã xẩy ra xung đột. Chỉ có một cách duy nhất thanh toán sự hiểu lầm và xung đột này là mọi người phải biết rõ lịch sử của Swastika, để có thể phân biệt được đâu là Swastika của cái Thiện, đâu là Swastika của quỷ dữ. Vì thế, lịch sử là một khoa học rất cần thiết đối với nhận thức nói chung
pham viet hung
Giảng dạy: Từng giảng dạy các môn Toán Kinh tế; Cơ học Lý thuyết; Sức bền Vật liệu; Toán luyện thi đại học. Hiện thỉnh giảng Toán cao cấp tại một đại học ở VN.

(Blog Phạm Việt Hưng)

Tin Tức Hàng Ngày - Trang Thông Tin Đa

Nhà văn Nhật Tuấn – Nỗi niềm tiếc nuối mãi không nguôi khi đã trả xong nợ trần gian...

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, 
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà...


Thế là "Tuấn, chàng trai đất Việt" đã ung dung tự tại để trở về với đất Mẹ Việt Nam thân yêu. Như một cánh nhạn lẻ cuối trời thu đã kịp về với tổ ấm, hay như  một ngôi sao băng lạc lối đã trở về với vòng quay của vũ trụ mênh mông, thì Nhật Tuấn giờ cũng đã thoát khỏi cõi tạm khổ đau để đến được với cõi Phúc Vĩnh Hằng. Hẳn là nhà văn trẻ mãi không già của chúng ta đã mỉm cười khi bước về bên kia thế giới với cái đầu ngẩng cao , tự hào về những gì đã làm được ở thế giới bên này. 

Nhà văn Nhật Tuấn đã rời bỏ chúng  ta, những người yêu mến ông để thoát khỏi sự ồn ào trần tục của những kẻ phàm phu hay bọn cơ hội mà ông đã phải gồng mình sống  chung  cùng một đất nước, cùng chung một bầu trời.  

Trong bùn sen vẫn nở hoa sen trắng.
Vẫn ngạt ngào hương sen không chút mùi bùn...

Trở về với cát bụi hư không như một con người được yêu mến trân trọng, nhưng còn hơn thế nữa ông đã để lại cho người  yêu văn chương một gia tài gồm nhiều tác phẩm văn chương có giá trị mà cả đời cầm bút ông rứt ruột viết ra. Nhưng  quan trọng hơn là ông đã để lại cho tất cả chúng ta tấm gương của một nhân cách lớn, nhân cách của một người cầm bút chân chính.

Phải sinh ra và lớn lên trong lòng một xã hội đảo điên, trong một thời buổi nhiễu nhương với các giá trị bất định , các thước đo nghiêng ngả cùng các giường cột lung lay tận gốc nhưng Nhật Tuấn đã chứng tỏ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay rằng,  ông vẫn giữ vững được phẩm giá của một người cầm bút chân chính, phẩm giá của một nhà văn luôn hăng hái trong cuộc đấu tranh cho công bằng xã hội, cho hạnh phúc của người dân với cái đầu ngẩng cao đầu, không khuất phục và không khoan nhượng với cường quyền.

Trong khi những đồng đạo văn chương của ông, có cả những cây đa cây đề thì tung hô, hay luồn cúi cường quyền để được vinh thân phì gia thì Nhật Tuấn đã sớm chọn cho mình một con đường đi riêng để dấn thân. Con đường  mà một người cầm bút có lương tâm và đạo lý nào cũng chọn lựa. Đó là con đường tranh đấu cho tự do dân chủ, cho công bằng xã hội. Lựa chọn con đường đứng hẳn về phía dân tộc, ông đã cho cái chính quyền hiện nay thấy rằng, ông đang ở phía đối lập với họ. Là một nhà văn có tên tuổi, có nhiều tác phẩm và có nhiều độc giả yêu mến, Nhật Tuấn đã khí khái đứng về phía người dân, về phía người bị áp bức chứ không phải về phía cường quyền hùng mạnh trong cuộc đấu tranh không mệt mỏi cho một ngày mai tươi sáng cho tiền đồ của dân tộc Việt Nam. 

Và cũng như nhiều nhà văn đấu tranh khác, ông cũng đã bị mất mát rất nhiều, cả những điều nhìn thấy được lẫn những điều không nhìn thấy được. Ông bị truy bức, bị gây khó dễ, sách của ông không được in, các tác phẩm của ông không được xuất bản trong nước. Thật khó có thể kể hết những oan nghiệp mà một văn nhân dấn thân như ông đã phải gánh chịu. Trong đó có cả chuyện đổ vỡ riêng tư của ông với Blogger Beo Hồng. Nhưng như một kẻ sĩ Bắc Hà, thà chịu đói, khổ hay chết chứ nhất định không chịu hèn. Và ông nghiến răng lại để tiếp tục đi trên con đường vô định của mình. Con đường gian nan mà một trí thức như ông đã “xông pha lên đàng” từ rất sớm 

Con đường không chỉ đấu tranh đòi tự do sáng tạo cho tất cả những người cầm bút, mà còn đấu tranh vì những quyền tự do bất khả phân ly của toàn thể người dân Việt Nam.

MTA nhớ đến trong một lần trao đổi thư từ, anh Nhật Tuấn đã góp ý bài viết về nhà văn Nguyễn Quang Lập của MTA  : “Anh (Mặc dù MTA nhỏ hơn anh nhiều cả về tuổi đời lẫn nghề nghiệp nhưng NT luôn xưng hô như thế) không nên nói rằng :

”Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ” (VHC). (Lũ chúng ta đây là các nhà văn dấn thân) 

Anh nói :" Hãy nhớ rằng, mọi cuộc CM, hay biến thiên của lịch sử bao giờ cũng có sự góp mặt của những người cầm bút, những nhà văn. Bởi ngòi bút của họ đôi khi còn mạnh hơn súng đạn. Chỉ trừ những kẻ bồi bút, những nhà văn hèn hay bưng bô thì đây chính là lúc các nhà văn chân chính phải dấn thân vào, họ phải vui mừng là được sinh ra đúng thời điểm. Để được dùng ngòi bút của mình đấu tranh, thậm chí để hy sinh thì cũng là để có ích với đời”
“Một nhà văn khí phách thì khí phách hơn người, nhưng là một nhà văn hèn thì cũng hèn hơn người” 
”Thời đại mạng internet, Blog, FB này là đất để cho các nhà văn, và sau nữa là nhà báo thi thố ngòi bút bởi lợi thế hiển nhiên của nghề nghiệp. Nhất là khi họ dấn thân. Chính vì thế tôi mong anh (MTA) hãy cố viết nhiều hơn nữa”.

Là một nhà văn thuộc loại đàn em, MTA rất biết ơn về những lời chỉ bảo thân tình của nhà văn đàn anh Nhật Tuấn. Và còn học được ở anh lòng nhiệt huyết của dòng máu luôn trẻ trung, luôn sôi sục trước bất công, bất bình đẳng. Và còn học ở anh những dòng văn hiện thực phê phán xã hội mà anh viết đều và viết khỏe. 

Ngòi bút Nhật Tuấn sắc bén, đả kích mạnh mẽ, đi cùng với văn phong hài hước chua cay và đi sâu vào các tầng lớp nghèo khổ thị thành, Nhật Tuấn luôn đưa người đọc chúng ta chạm đáy nỗi khốn khổ của họ cùng sự hài hước đến cay nghiệt, hoặc sự cay nghiệt đến hài hước. Khiến cho người đọc chúng ta luôn bật cười với một giọt nước mắt chực chờ rơi…

Thật may mắn khi hơn một năm nay, MTA gần gũi với anh Nhật Tuấn, và đã có được sự chỉ bảo quí giá về nghề nghiệp của một đàn anh văn chương, một người anh ngoài đời.

Biết MTA cũng có một vài tập bản thảo tiểu thuyết không được phép xuất bản giống như đa phần các cuốn sách của anh cũng chịu chung số phận thì đã nhiều lần anh Nhật Tuấn gợi ý sẽ giúp MTA nếu muốn in ở nước ngoài...” Nhưng MTA vì chưa có ý định đó nên chưa trả lời anh. 

Chuyện cuối cùng mà MTA muốn kể để tưởng nhớ về người anh, nhà văn Nhật Tuấn vừa đi xa chính là chuyện tường FB nhà anh luôn bị MTA bỏ bom bằng các bài viết của mình. Ngày ít thì 1,2 bài ngày nhiều thì 5, 7 bài. Cứ vào nhà FB của anh thì chỉ thấy toàn bài viết của MTA mà chính anh NT yêu cầu tag vào. Nhiều lúc MTA cũng ngượng nên đề nghị thôi để em stop lại nhé. Nhưng cũng lại chính anh Nhật Tuấn yêu cầu cứ tag vào nhà anh như thường. Vì anh nói anh thích cái  lối viết của MTA…

Than ôi! Giờ đây nhà văn Nhật Tuấn đã bỏ lại tất cả nơi trần thế ô trọc này để :”Đi về nơi hoang dã”. Ông bỏ văn chương, bỏ bút nghiên, bỏ ân, oán, tham, sân, si, và bỏ cả Sắc Sắc lẫn Không Không lại để trả nợ trần gian, rồi ung dung cưỡi hạc về Trời. 

Nhưng chắc hẳn ở nơi Miền Thanh Cao ấy, nhà văn với bầu máu nóng như của tuổi thanh niên vẫn luôn sôi sục không bình yên, và đau đáu trong trái tim của người văn nhân yêu nước ấy lại vẫn là nỗi đau đời thường,đó là nỗi niềm tiếc nuối mãi không nguôi của một giấc mơ không thành. Với nhà văn Nhật Tuấn thì dường như ông chỉ có hai giấc mơ của cả một đời phấn đấu, một đời chăm chỉ cống hiến. Đó là giấc mơ văn chương của riêng ông, và giấc mơ chung với giấc mơ của triệu triệu người Việt Nam. Rằng đến một ngày kia bình minh sẽ bừng sáng lên và chiếu rọi chói chang trên khắp xứ sở trong tiếng hò reo đắc thắng của toàn dân tộc Việt Nam chúng ta…

Chúng tôi đến để kính viếng hương hồn Anh, để bày tỏ lòng ngưỡng mộ Anh, và cũng để nói lên được lời chia tay xúc động với anh, trước khi nước mắt khiến chúng tôi nghẹn ngào  :

 Chúng tôi nhớ anh lắm -  Nhật Tuấn ơi...

MTA

17/10/15

Công An Hà Nội phải trả giá cho vụ việc này...

Cái chết của em Đỗ Đăng Dư ở trại tạm giam của CAHN là một vụ việc nghiêm trọng, rất nghiêm trọng xét về việc nạn nhân bị bạo hành chết ở tuổi vị thành niên, phạm tội vặt và quá trình tạm giam có nhiều uẩn khúc. Cũng như cái chết tức tưởi của em đã khiến dư luận trong ngoài xôn xao, đau xót. Có thể nói cái chết của em Đỗ Đăng Dư trong trại giam này là gây chấn động dư luận nhiều nhất. Bởi em còn vị thành niên mà chết thảm quá, và cũng bởi sự tàn độc của cơ quan CA mà gần đây khiến nhiều người dân bỏ mạng oan uổng.



Việc em lấy của hàng xóm 2 triệu đồng (đã trả lại) rồi thì có cần phải thi hành việc bắt giữ rồi tạm giam 2 tháng (lệnh phải do trưởng, phó CA quận hoặc VKS đồng cấp ký) có cần thiết không ? Đó có phải là biện pháp ngăn chặn hợp lý và hợp pháp với một tội danh, mà nếu có ra tòa thì cũng chỉ tha bổng hoặc án treo thôi chứ không thể án tù ? Và rồi hậu quả là đưa đến cái chết thê thảm, đau lòng của em Dư như thế thì có đáng không ? 

Và cứ cho là sự việc đúng như những gì CA Hà Nội thông báo là do tù đánh nhau thì trách nhiệm của cơ quan thực thi pháp luật cũng không thể chối cãi. Trách nhiệm của cá nhân, mà ở đây là của những cán bộ thụ lý vụ việc, của cán bộ quản lý trại tạm giam và trên hết của người ký quyết định tạm giam, từ phó thủ trưởng cơ quan CA, hoặc người đồng cấp của VKS là không thể chối cãi. Và họ cần phải trả giá cho việc sai trái này bằng cách từ chức hoặc bị cách chức đi. Cao hơn nữa là ban lãnh đạo CAHN và giám đốc là tướng Nguyễn Đức Chung phải chịu trách nhiệm chung, phải từ chức hoặc bị cách chức để làm gương, khi cơ quan thi hành pháp luật của họ giống như những nơi ma ám. Còn nhân viên CA thì giống như "Kẻ  giết người hàng loạt". Cứ dăm bữa nửa tháng lại có người dân "Vào Sinh, Ra Tử" nơi đồn công an vậy...

Phải có kẻ chịu trách nhiệm về cái chết của thiếu niên này. Không thể có chuyện đánh trống bỏ dùi, hoặc nhận khuyết điểm lấy lệ, hay thí chốt trong việc điều tra vụ việc này. Hãy nhớ rằng một mạng người đã bị tước đoạt tàn nhẫn. 

Và hãy nhớ rằng em Đỗ Đăng Dư đã không ra đi ở cái tuổi 17 đầy sức sống của em nếu không bị CAHN mời về trụ sở của CAHN để "làm việc"...

MTA

14/10/15

Lại có thêm một cái chết đau lòng nữa từ nơi giam giữ...

Thiếu niên 17 tuổi Đỗ Đăng Dư đã trả giá quá đắt cho một sai lầm nhỏ của mình, nhưng là một sai sót quá lớn, và không thể chối tội được của ngành Công An. Em đã trả giá bằng chính mạng sống của mình khi tuổi vẫn còn vị thành niên, khi cuộc đời còn dài lâu trước mắt. Oan nghiệt quá...


Em ra đi khi tuổi đời còn ngơ ngác, và để lại nỗi đau không gì bù đắp nổi cho người thân của em, và nỗi day dứt đau buồn cho cả những người xa lạ như chúng tôi. Còn quá sớm để kết luận hung thủ trực tiếp gây nên cái chết rúng động lòng người như cái chết của em, nhưng những người thực thi pháp luật, cả người trực tiếp dính líu đến và cả những người lãnh đạo ngành CA không thể không có tội, không thể chạy tội hay chối tội được.

Cái chết tức tưởi của em đột ngột, bất ngờ như sét nổ giữa trời quang nhưng không bất thường vì liên tục đã có nhiều người bỏ mạng đầy bí hiểm và oan nghiệt từ cái cơ quan thực thi pháp luật ấy, nơi mà lẽ ra không bao giờ nên có những cái chết ấy thì lại luôn có những cái chết khủng khiếp như sét đánh xuống đầu. Oan nghiệt quá...

Những hình ảnh ghê rợn, những thân người bầm giập, những dấu vết khủng khiếp của bạo hành, sự gào thét vật vã của người thân của nạn nhân, cùng một màn im lặng đáng sợ của những người thực thi pháp luật và sự im lặng khó hiểu của các cơ quan thông tin đại chúng là những đặc điểm giống nhau của những vụ việc này. Điều giống nhau nữa là sự tái diễn, lập đi lập lại, khi dư luận về vụ chết người trước chưa dịu đi thì lại có vụ sau lại bùng lên dữ dội hơn....

Nhưng tại sao vậy, tại sao cái chết vừa bí hiểm, vừa đáng sợ cứ rơi lên đầu của những công dân trẻ tuổi, khoẻ mạnh và không hề bệnh hoạn khi họ có rắc rối và phải trải qua sự can thiệp cũng như trải quá những giờ phút cuối cùng của đời họ ở trong cơ quan công an ? Tại sao những nạn nhân đó lại chết thảm khi dính líu đến cơ quan công an, mà nói thẳng ra là họ sẽ không chết nếu không phải làm việc với những người thực thi pháp luật, họ sẽ không chết nếu không bị mời, bị tạm giữ, tạm giam ở cơ quan thực thi pháp luật đó.

Đau lòng hơn nữa là những cái chết như em luôn không phải lỗi của nghành công an, luôn không phải lỗi của những người thực thi pháp luật đã bắt giữ nạn nhân như em. Những kẻ sát nhân, dù vô tình hay cố ý đều là sát nhân nhưng những kẻ gây ra cái chết của em, hay những nạn nhân khác luôn không phải là kẻ sát nhân chỉ bởi vì họ là người thực thi pháp luật, và mặc bộ sắc phục của ngành CA  chăng ?

Chỉ khi nào ta chỉ đích danh những kẻ dính líu đến cái chết của em Dư, hay đến những cái chết của các nạn nhân giống em là những kẻ sát nhân, thậm chí là những kẻ sát nhân khốn khiếp nhất vì chúng phạm tội trong khi mặc sắc phục, và xử tội chúng như những kẻ sát nhân thực sự thì mới mong không còn những nạn nhân phải chết thảm như em Đỗ Đăng Dư....

MTA

Bộ ảnh nude đầy nghệ thuật của Dương Quốc Định

Nhiếp ảnh gia Dương Quốc Định đang gây xôn xao dư luận bởi những tác phẩm nude đầy nghệ thuật của mình. Một trong những shoot ảnh nude của nhiếp ảnh…