6/10/16

Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ

Tháng 9 năm Quý Dậu (11/10/1873), Hải quân Đại uý Francis Garnier (Ngạc Nhi) đem binh thuyền ra Bắc, mượn cớ bênh vực thương nhân Jean Dupuis (Đồ Phổ Nghĩa), làm đủ cách khiêu khích, gây hấn với chính quyền Việt Nam.

Đây là một bản thông cáo của Garnier, được công bố ở Hà Nội ngày 18/11/1873, nói về việc khai thương sông Hồng Hà, với giọng điệu vô cùng xấc xược :

“Quan lớn (Le Grand Mandarin) Francis Garnier do quan Đề Đốc Toàn quyền Nam Kỳ thuộc Pháp phái ra Bắc Kỳ để thỏa thuận với nhà cầm quyền Việt Nam về việc khai thương xứ này; Nay quyết định để dân chúng biết :

1-Kể từ hôm nay, sông Hồng Hà mở cho người Pháp, người Tây Ban Nha và Trung Hoa vào buôn bán từ biển lên đến Vân Nam.

2-Những cửa biển mở cho thuyền ra vào buôn bán là cửa Hải Phòng, Thái Bình v.v..

3-Quan thuế tính 2% của giá hàng xuất cảng cũng như nhập cảng.

4-Thuế này khai nộp cho nhân viên ty quan thuế khi đưa hàng vào hay mang hàng ra

5-Hàng mang lên Vân Nam chỉ chịu có 1% thuế

6-Hàng của Sài Gòn đến Hà Nội hay của Hà Nội đến Sài Gòn chỉ chịu 0,5% thuế

7-Bản thuế lệ này nếu có sửa đổi sẽ báo trước 6 tháng.

8-Thương nhân Trung Hoa và ngoại quốc được nước Pháp bảo hộ sẽ không phải tùy thuộc nước Nam về bất cứ một phương diện nào.

9-Thương nhân các nước được quyền mua nhà, mua đất ở Hà Nội để ở.

10-Những sở thuế quan Việt Nam sẽ bãi bỏ"

Thông cáo được công bố ra, người Việt Nam thảy đều sững sờ kinh ngạc, như vậy thì còn đâu là chủ quyền của nước Việt Nam, và Bắc Kỳ đã là thuộc quốc của Pháp rồi ư ? Không khí chiến tranh bao trùm khắp đất Bắc

Ngày 20/11/1873, Francis Garnier hạ lệnh cho 200 quân đánh thành Hà Nội. Chưa đầy một giờ chiến đấu, thành vỡ, 7000 quân Nam tan chạy, Tổng Đốc Hà thành Nguyễn Tri Phương bị thương và bị bắt, sau đó ông không cho băng bó vết thương, nhịn ăn mà chết, con là Phò mã Nguyễn Lâm cũng tử trận tại cửa Nam thành.

Ba tháng sau đó, ngày 15/3/1874, Philastre và Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường ký kết hoà ước Giáp Tuất, gồm 22 điều khoản với phần thua thiệt thuộc về Việt Nam, nhưng việc “thôn tính Bắc Kỳ” cũng phải tạm thời đình trệ trong suốt 8 năm sau đó.

Đến tháng 2 năm Nhâm Ngọ (tháng 3/1882), thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Villers lại sai Hải quân đại tá Henry Rivière đem binh thuyền ra Bắc, bề ngoài viện cớ bảo vệ kiều dân Pháp, bênh vực quyền lợi thương nhân Pháp, và “dẹp loạn giùm” cho triều đình Huế, để âm thầm tìm cách gây chiến, đánh Bắc Hà lần thứ hai.

Ngày 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ (25/4/1882), chỉ với 600 quân, 7 khẩu đại bác và 3 chiếc tàu chiến, quân Pháp hạ thành Hà Nội sau ba giờ tấn công bằng đại pháo. Án sát Tôn Thất Bá bỏ thành chạy trốn. Các tướng như Đề Đốc Lê Văn Trinh, Lãnh binh Lê Trực, Lãnh binh Nguyễn Đình Đường đều phải thoái lui. Phó Lãnh binh Hồ Văn Phong hiệp lực cùng Tổng đốc Hoàng Diệu kháng cự mãnh liệt ở cửa Bắc

...”Nhờ có thang tre, nên cánh quân của Chanu đã vượt tường vào thành, đột phá tung thâm. Tiếng hô xung phong ầm ĩ. Quân hai bên hỗn chiến bằng súng, gươm, lưỡi lê, mã tấu... Tiếng đâm chém, tiếng kêu thét xen lẫn vào nhau nghe thật kinh hoàng.

Quân Nam núng thế, vừa cầm cự vừa rút. Tổng Đốc Hoàng Diệu cưỡi voi, cũng rút lui về phiá Nam, và truyền lệnh :-“Ai muốn về kinh thì về,còn ai muốn đánh nữa thì lên Sơn Tây hợp với Hoàng Kế Viêm”.

Khi mọi người đã chạy gần hết, ông vào Hành cung lạy vọng về triều, cắt ngón tay lấy máu viết mấy lời di biểu để tạ tội với vua Tự Đức, rồi chạy ra thắt cổ tại một cành cây đại thụ ở trước Võ Miếu”

Sau khi Tổng đốc Hoàng Diệu tự vẫn, Tán lý quân vụ Nguyễn Cao (Tán Cao) cũng tự móc ruột mà chết, không chịu đầu hàng.

Triều đình Huế, đứng đầu là vua Tự Đức, một mặt sai Nguyễn Chính, Bùi Ân Niên, Hoàng Kế Viêm chỉnh đốn quân mã, sẵn sàng giao chiến với quân Pháp, một mặt cho sứ thần sang Trung quốc cầu viện với Thanh triều, mặt khác sai Trần Đình Túc, Nguyễn Hữu Độ làm Khâm sai ra Hà Nội thương thuyết.

Henry Rivière thuận trả lại thành Hà Nội, nhưng yêu sách đòi 4 khoản :

-Nước Nam phải nhận cho nước Pháp bảo hộ
-Nhường thành phố Hà Nội cho nước Pháp
-Đặt sở thương chánh ở Bạch Hạc (Vĩnh Yên)
-Sửa lại việc thương chánh ở các nơi, giao quyền cho người Pháp cai quản.

Triều đình Huế bác bỏ các yêu sách ấy

Tháng 2 năm Quý Mùi (3/1883), sau khi được tăng viện thêm 750 quân, Rivière hạ lệnh đánh chiếm Hòn Gai (Quảng Ninh), chuẩn bị kế hoạch đánh lấn lên Sơn Tây, đồng thời đánh hạ thành Nam Định. Tổng đốc Nam Định Vũ Trọng Bình chạy trốn, Đề Đốc Lê Văn Điếm tử trận, Án Sát Hồ Bá Ôn bị thương.

Sau khi Rivière chết trận trong trận Cầu Giấy, lực lượng Pháp được tăng viện mạnh mẽ : Harmand lúc ấy đang làm Sứ thần ở Bangkok (Thái Lan) được cử trở lại Việt Nam giữ chức Tổng uỷ viên quân chính Bắc kỳ, Trung tướng Bouet làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Việt Nam, Phó Đề Đốc Courbet chỉ huy “Hạm đội Bắc kỳ” gồm 4 tàu khu trục và hai tàu phóng lôi, được tăng viện bằng hàng chục tàu chiến , pháo hạm, soái hạm từ Thiên Tân kéo sang. Bốn trung đoàn lính thuỷ đánh bộ (hơn 5.000 người) và nhiều chiến cụ, súng ống, đạn dược được cấp tốc đưa đến Việt Nam.

Quân Pháp tiến hành bình định vùng trung du, tiến chiếm Hải Dương và Quảng Yên. Cùng lúc đó, hạm đội Pháp tấn công Đà Nẵng, rồi đánh thẳng vào cửa Thuận An (Huế). Tình hình hết sức là nguy ngập.

Ngày 21/8/1883, quan thương bạc Nguyễn Trọng Hợp được cử ra cửa Thuận để xin đình chiến, có giám mục Gaspar làm thông ngôn. Cuộc đình chiến dự trù trong 48 giờ với điều kiện :

-Phải phá huỷ các cản, cừ ... trên sông Hương.
-Mang nộp những chiến hạm mà Pháp đã trao cho Việt Nam theo hoà ước 1874.
-Triều đình Huế phải cho triệt binh, phá huỷ hết đạn dược, lương thực trong 12 đồn binh từ cửa Thuận vào đến Huế.

Quan thương bạc Nguyễn Trọng Hợp chấp nhận ngay các điều kiện ấy. Hôm sau, ngày 22/8/1883, Harmand trao cho Nguyễn Trọng Hợp một bản tối hậu thư, quy kết cho Triều đình Huế các tội danh như sau :

-Triều đình Huế đã gây ra các cuộc nổi loạn liên miên ở Nam kỳ.
-Không phân định rõ ranh giới giữa đất thuộc Pháp (Nam Kỳ) và đất còn lại thuộc triều đình Huế.
-Làm ngưng trệ sự giao thông trên sông Hồng Hà.
-Câu kết, nuôi dưỡng quân Cờ Đen ở Bắc Kỳ.
-Nhục mạ kiều dân và lãnh sự Pháp tại Bắc kỳ.
-Cấu kết với nước Xiêm, nhất là với Thanh triều để làm hại quyền lợi của Pháp.

Cuối thư, Pháp không quên hăm doạ triều đình Huế, lời lẽ ngạo mạn như sau :

“Các ông chỉ có hai đường để quyết định : hòa hay chiến. Nếu các ông lựa chiến tranh thì chiến tranh sẽ đưa các ông đến chỗ đổ vỡ hoàn toàn. Còn các ông muốn hòa bình thì chúng tôi sẵn sàng nhượng bộ các ông, theo các điều khoản dưới đây, chúng tôi không muốn chiếm cứ nước các ông, nhưng các ông phải chấp nhận để cho chúng tôi bảo hộ. Cuộc bảo hộ này bảo đảm an ninh, hòa bình và thịnh vượng cho dân tộc Việt Nam và sự kiện đó sẽ mang lại cái cơ may độc nhất để triều đình các ông có thể tồn tại được. Sau đây là các điều kiên chính yếu của chúng tôi:

-Nhượng Bình Thuận cho Nam Kỳ để trả nợ cũ.

-Kiều dân Pháp có quyền lưu trú trong bất kỳ thị trấn nào xét ra cần thiết.

-Người Pháp sẽ kiểm soát sở thương chánh và thu các khoản thuế ...”

Kèm theo tối hậu thư là bản dự thảo hòa ước gồm 27 điều khoản, Harmand lại hạn cho triều đình Huế phải phúc đáp trong vòng 24 giờ.

Vua Hiệp Hòa và quần thần vô cùng run sợ, vội vàng cử ông Trần Đình Túc làm chánh sứ toàn quyền, ra điều đình với Pháp suốt ngày 24/8/1883, qua ngày hôm sau 25/8/1883, bản hòa ước Quý Mùi, cũng được gọi là hòa ước Harmand được ký kết, với nội dung như sau :

HOÀ ƯỚC HARMAND 1883

1-Nước Nam nhận và chịu sự bảo hộ của nước Pháp ...

2-Tỉnh Bình-Thuận từ nay sát nhập vào Nam Kỳ thuộc Pháp.

3-Nước Pháp được quyền đóng quân ở dãy núi Đèo Ngang, từ nơi này ra đến Vũng Chùa; Quân đội Pháp cũng được đồn trú thường xuyên từ cửa Thuận An vào đến kinh thành Huế .......

4-Nam triều phải gọi hết quân đội đã đem ra Bắc kỳ về để thực hiện hòa bình.

5-Nam triều phải ra lệnh cho các quan lại ở Bắc kỳ trở lại nhiệm sở, bổ quan vào chỗ khuyết, tạm thời công nhận những sự bổ nhiệm của nhà cầm quyền Pháp sau khi hai bên đã thỏa hiệp.

6-Chính quyền Việt Nam, từ ranh giới tỉnh Bình Thuận đến ranh giới Bắc Kỳ, lấy Đèo Ngang làm giới hạn, sẽ tự cai trị lấy như cũ, không có sự kiểm soát của nước Pháp, ngoại trừ việc thương chánh, công chánh và đại để những việc cần chủ trương hợp nhất hoặc tư vấn của những kỹ thuật gia Âu Châu.

7-Trong giới hạn trên đây, Nam triều sẽ mở cửa cho người nước ngoài đến buôn bán ở các hải cảng Qui Nhơn, Đà Nẵng, Xuân Đài. Sau này, nếu cần sẽ mở thêm các thương cảng khác để có lợi cho cả hai nước, và cũng sẽ định ra giới hạn cho những đất nhượng cho người Pháp ở những cửa đã mở.

8-Nước Pháp có thể dựng một hải đăng ở mũi Varella hoặc ở mũi Paradan hay Poulo-Cécir tuỳ theo ý kiến của các sĩ quan và kỹ sư Pháp.

9-Hai chánh phủ Việt Pháp sẽ thỏa hiệp và chịu chung phí tổn sửa con đường lớn từ Hà Nội đến Sài Gòn, để cho các loại xe cộ đi lại được. Nước Pháp sẽ cấp các kỹ sư để làm cầu cống và các đường hầm để cho xe đi qua.

10-Trên đại lộ này, sẽ đặt một đường dây điện thoại do người Pháp khai trương. Một phần thuế sẽ giao cho chính phủ nước Nam do việc nhượng đất đai để làm các trạm.

11-Tại Huế sẽ có một Khâm sứ là đại diện chính phủ bảo hộ, hầu trông nom việc thi hành hiệp ước và giao dịch với Nam triều. Ông này thuộc vào hàng cao cấp dưới quyền Tổng uỷ viên công hoà Pháp quốc, ông sẽ không can thiệp vào việc nội bộ của triều đình Huế. Tổng uỷ viên Pháp chủ trương việc ngoại giao cho nước Nam và có thể giao toàn bộ uy quyền hoặc một phần uy quyền cho Khâm sứ Pháp ở Huế.

Khâm sứ Pháp có quyền diện yết Hoàng Đế Việt Nam. Nếu có lý do chính đáng thì nhà vua không thể không tiếp kiến được.

12-Ở Bắc kỳ sẽ có một Trú sứ ở Hà Nội (sau này gọi là Thống sứ), một Trú sứ ở Hải Phòng và mỗi tỉnh ở miền duyên hải cũng như mỗi tỉnh lớn cũng sẽ có Trú sứ (sau này gọi là Công sứ). Về sau, nếu xét thấy cần, ở mỗi tỉnh nhỏ cũng sẽ đặt những quan chức Pháp khác, dưới quyền Trú sứ tỉnh lớn mà tỉnh nhỏ ấy phụ thuộc, theo khu vực hành chánh trong nước.

13-Các quan Trú sứ và phó Trú sứ sẽ có một số cộng sự viên cần thiết cho họ và một toán lính hoặc Pháp hoặc bản xứ để giữ gìn về mặt an ninh .

14-Các quan Trú sứ sẽ không dự vào chi tiết các việc nội bộ của các tỉnh nhưng có quyền kiểm soát quan Việt Nam các hạng và có thể thuyên chuyển những ai có thái độ hay hành động không tốt với các quan chức Pháp.

15-Các quan lại, các viên chức Pháp thuộc các sở như Buu Điện, Công Khố, Thương Chánh, Công Chánh, Học Chánh nếu cần giao dịch về công vụ với các nhà cầm quyền Việt Nam phải do các Trú sứ chuyển đạt.

16-Các quan Trú sứ có quyền xử các vụ kiện cáo về dân sự, về hình và hộ của người Âu Châu khi có tương tranh, cũng như người các nước Á Châu khác được hưởng sự bảo hộ của nước Pháp. Nếu họ muốn kháng án thì đệ đơn khiếu nại về Sài Gòn.

17-Ở các nơi quy tụ thành phố, các quan Trú sứ kiểm soát việc tuần phòng của quan Việt Nam và thành phố mở rộng ra tới đâu thì thì quyền kiểm soát sẽ nới ra tới đó.

18-Các Trú sứ, có Bố Chánh giúp việc để thông quy thuế khóa, săn sóc việc thu hoạch và sử dụng.

19-Việc thương chánh phải sắp đặt lại và hoàn toàn thuộc quyền quan cai trị Pháp. Nếu việc thương chánh do các sĩ quan quân đội ở Bắc kỳ ấn định phương pháp thì không được kêu nài gì hết.

20-Các công dân Pháp, hay những người có quốc tịch Pháp đều có quyền đi lại, cư trú và có tài sản trên đất nước của Hoàng đế nước Nam, những người ngoại quốc xin hưởng sự bảo hộ vĩnh viễn, hoặc tạm thời của người Pháp cũng được đãi ngộ như vậy.

21-Những người vì lý do khoa học hay lý do khác muốn du lịch trong nước Việt Nam chỉ được phép do Khâm sứ Pháp ở Huế, Thống đốc Nam Kỳ hay Tổng uỷ viên của chánh phủ Pháp ở Bắc Kỳ làm môi giới xin cho mà thôi, khi họ được giấy phép thì phải trình lên chính phủ Việt Nam kiểm nhận.

22-Nước Pháp sẽ lập các đồn binh dọc theo sông Hồng Hà trong suốt thời gian xét thấy cần có sự đề phòng cho việc lưu thông tự do trên con sông ấy. Nước Pháp cũng có thể lập các đồn lũy vĩnh viễn ở những nơi nào xét ra cần thiết.

23-Từ nay về sau, nước Pháp phải bảo đảm cho sự toàn vẹn của quốc gia Việt Nam, gìn giữ các xứ Việt Nam (Trung, Nam, Bắc) khỏi mọi cuộc xâm lăng bên ngoài và cách mạng bên trong. Nước Pháp tự đảm đương lấy việc đánh đuổi quân Cờ Đen và bảo vệ an ninh trên sông Hồng Hà. Hoàng đế Việt Nam tiếp tục cai trị nước Việt Nam như xưa, trừ những hạn chế do hiệp ước này nêu ra.

24-Nước Pháp chịu trách nhiệm cung cấp cho vua Việt Nam những huấn luyện viên, các kỹ sư, các nhà bác học, các sĩ quan v.v ... mà nhà vua sẽ cần đến.

25-Nước Pháp sẽ coi người Việt Nam ở khắp nơi như là những người được bảo hộ chân chính của mình.

26-Món nợ mà Việt Nam còn thiếu của Pháp được coi như đã thanh toán xong, vì Việt Nam đã nhượng Bình Thuận cho Pháp.

27-Sẽ có những cuộc thảo luận để luận giải về số tiền trích giao cho chính phủ Việt Nam trong số quan thuế và điện tín vv... bao gồm cả các loại thuế ở Bắc Kỳ, thuế về những cuộc chuyển mại độc quyền, thuế công kỹ nghệ sẽ cho phép thiết lập. Số tiền trích giao ở số thuế thu được không được dưới hai triệu quan. Đồng bạc (Piastre Mexicaine) và tiền tệ bằng bạc của xứ Nam Kỳ sẽ cùng tiền tệ của Việt Nam được cưỡng bách lưu hành đồng thời khắp nước.

Bản hòa ước được đem về cho Tổng Thống Pháp và Hoàng Đế Việt Nam chuẩn y rồi sẽ hỗ giao càng sớm càng hay.

(nguồn : nghiencuulichsu.com)

5/10/16

Quân đội của Nguyễn Ánh thời gian 1788 – 1802

Sau khi giết Đỗ Thanh Nhơn năm 1781, Nguyễn Ánh chia quân Đông Sơn thành bốn quân Tiền Hậu Tả Hữu, là tiền thân của các đơn vị bộ binh lớn được gọi là dinh tức Tiền quân, Hậu quân, Tả quân, Hữu quân về sau, lại lấy Tôn Thất Dụ làm Chưởng Trung quân tiết chế chư đạo bộ binh, theo đó đủ thấy trước 1788 quân đội Gia Định đã được chia làm năm dinh Tiền Hậu Trung Tả Hữu. Từ 1788 trở đi theo với diễn tiến của cuộc chiến tranh chống Tây Sơn, quân đội của Nguyễn Ánh đã phát triển trên tất cả các mặt số lượng và tổ chức, trang bị kỹ thuật và trình độ chiến thuật, trở thành một quân đội hùng mạnh bậc nhất Đông Nam Á sau 1802.

Đại Nam Thực lục Chính biên đệ nhất kỷ chép lúc chiếm lại Gia Định lần thứ nhất năm 1778, quân đội của Nguyễn Ánh có không dưới 30.000 người và 80 thuyền đi biển, 2 chiến thuyền lớn, 2 chiếc tàu Tây dương. Theo thời gian và nhu cầu của chiến tranh, con số này cũng tăng dần, đến đầu thế kỷ XIX theo ghi chép của John Barrow được G. Taboulet dẫn lại trong La geste francaise en Indochine thì quân đội Gia Định đã có tới 113.000 bộ binh (24 đội kỵ binh gồm 6.000 người, 16 đại đội tượng quân với 200 voi và 8.000 người, 30 đại đội pháo binh gồm 15.000 người, 25 liên đội trang bị súng tay gồm 30.000 người, khinh binh trang bị gươm giáo và súng cò đá lửa gồm 42.000 người, cận vệ được tập luyện chiến thuật Tây phương tức quân Thần sách gồm 12.000 người) và 26.800 thủy binh (chế tạo thuốc đạn trong Xưởng Chu sư 8.000 người, trên các tàu trong cửa biển gồm 8.000 người, trên các tàu kiểu châu Âu gồm 1.200 người, trên các ghe bầu gồm 1.600 người, trên các thuyền chiến có chèo gồm 8.000 người), tổng cộng 139.800 người. Số lượng bộ binh được trang bị hỏa khí kể cả quân Thần sách chắc chắn phải được trang bị những vũ khí tốt nhất có khoảng 84.000 người, nếu tính thêm pháo binh là 99.000 người, trong bối cảnh kỹ thuật đương thời rõ ràng là một quân đội được hiện đại hóa ở trình độ khá cao. Trước 1788, quân đội Nguyễn Ánh đã có chiến thuyền phương Tây tức chiếc “Tây dương quả đồng đại thuyền” với lựu đạn của Manuel gây nhiều tổn thất cho quân Tây Sơn ở sông Ngã Bảy năm 1782. Ngoài ra, vào đầu thế kỷ XX, Linh mục Cadière còn tìm thấy trong văn phòng Nội các của triều Nguyễn một tấm bản đồ về công sự với một loại súng của pháo binh vẽ từ một quyển sách về công sự Vauban, xuất bản năm 1773.

Sử chép lúc vây thành Quy Nhơn năm 1793 Nguyễn Ánh đã định “dùng phép thả diều phóng lửa của nước Tây” để đánh, nhưng lại sợ dân trong thành bị họa lây nên thôi, sai các quân không nên đánh gấp, để dân tự ra. Tuy nhiên từ trận Trấn Ninh năm 1672, quân Trịnh đã dùng diều giấy mang hỏa dược trộn dầu rái lựa chiều gió thả vào đốt lũy, quân Nguyễn có người bị diều rơi trúng đốt cháy không sao dập tắt bằng nước, nên “phép thả diều phóng lửa của nước Tây” này chắc phải có khác. Căn cứ vào lịch sử phát minh khinh khí cầu (năm 1783, hai anh em Montgolfier chế tạo ra khinh khí cầu dùng hơi nóng để bay lên), có thể nghĩ phép thả diều phóng lửa mà Nguyễn Ánh định dùng chính là khinh khí cầu kiểu phương Tây chứ không phải loại diều truyền thống như quân Trịnh đã dùng năm 1672.

Năm 1789 sai các dinh kén quân chiến tâm, số quân chiến tâm này được dồn bổ vào vệ Thần sách, về sau trở thành dinh Thần sách quân. Năm 1795 có lệnh Chánh Phó Vệ úy các vệ quân Thần sách đều thêm hai chữ “Thuộc nội”, theo đó có thể thấy quân Thần sách được coi như thân quân của Nguyễn Ánh.

Quân Nguyễn Ánh chia làm nhiều quân đoàn lớn gọi là dinh, như Tiên phong dinh, Hậu quân dinh, mỗi dinh chia làm nhiều đồn, mỗi đồn chia làm nhiều chi. Căn cứ vào điều 16 trong 32 điều quân chính ban bố trong quân Nguyễn Ánh đầu năm 1799 “Ra trận mà lùi chạy thì chém. Những chi, hiệu, đội, thập, ngũ nào mà lui chạy thì người Trưởng chi, Trưởng hiệu, Cai đội, Đội trưởng, Ngũ trưởng đều bị chém đầu để răn mọi người. Nếu Trưởng chi bị thất lạc thì các Trưởng hiệu cùng thuộc viên trong chi phải chịu đồng tội, Trưởng hiệu, Cai đội, Đội trưởng, Ngũ trưởng bị thất lạc thì Cai đội trong hiệu, Đội trưởng trong đội, Ngũ trưởng trong thập, binh đinh trong ngũ đều chịu đồng tội. Bị tên đạn mà chết thì không kể”, có thể biết bộ binh trong quân Nguyễn Ánh được chia thành dinh, đồn, chi, hiệu, đội, thập, ngũ, tức một chi có nhiều hiệu, một hiệu có nhiều đội, một đội có nhiều thập, một thập có ít nhất hai ngũ, một ngũ có lẽ có năm người. Người đứng đầu một dinh tức Chưởng dinh hay Quản dinh, đứng đầu một đồn là Chánh thống đồn, đứng đầu một chi là Trưởng chi, đứng đầu một đội là Cai đội, còn người đứng đầu một thập thì không gọi là Thập trưởng mà gọi là Đội trưởng. Thủy quân cũng tổ chức tương tự, nhưng các đồn được gọi là dinh.

Đến đầu 1802, sau nhiều lần thay đổi về tổ chức, phiên hiệu, tướng soái, toàn bộ quân đội Nguyễn Ánh được chia thành bảy dinh lớn là Tiền quân, Trung quân, Tả quân, Hữu quân, Hậu quân, Thần võ quân, Chấn võ quân (được cấp ấn son), ngoài ra còn các dinh nhỏ như Tiên phong dinh, Tượng dinh, Thần sách quân. Trung quân chủ yếu là thủy quân, là lực lượng cơ động nhất trong hoàn cảnh giao thông thời bấy giờ. Tượng dinh, Trung quân dinh vừa là hai quân đoàn vừa là hai binh chủng.

Thủy quân của Nguyễn Ánh thời gian 1788 – 1802

Trong gần hai trăm năm trước khi Tây Sơn khởi nghĩa, quân đội Đàng Trong phát triển trong điều kiện địa hình bờ biển kéo dài ở miền Trung và sông rạch chằng chịt ở miền Nam nên có lực lượng thủy quân đặc biệt tinh nhuệ, đầu thế kỷ XVII từng đánh bại cả hạm đội của Hà Lan. Cuối thế kỷ XVII, với việc tiếp nhận các di thần phản Thanh phục Minh Trung Hoa và khai thác phương Nam, thủy quân Đàng Trong lại tiếp thu thêm kỹ thuật thủy chiến Hoa Nam cũng như Đông Nam Á, sự thích ứng tích cực ấy khiến nó trở thành lực lượng thủy quân thiện chiến bậc nhất trong khu vực đồng thời chiếm địa vị lực lượng chủ lực trong quân đội Đàng Trong. Không phải ngẫu nhiên mà biên chế thủy quân Đàng Trong có đơn vị thuyền (tương đương đội trong bộ binh). Có thể nói thủy quân của Nguyễn Ánh từ 1778 trở đi đã kế thừa truyền thống thủy quân Đàng Trong trên các phương diện tổ chức, trang bị kỹ thuật và chiến thuật nhưng theo thời gian cũng có nhiều nét cách tân.

Về tổ chức, năm 1796 đặt năm dinh Thủy quân. Trước chỉ có ba dinh Trung thủy, Tiền thủy, Hậu thủy, lúc ấy đặt thêm hai dinh Tả thủy, Hữu thủy. Mỗi dinh lại chia thành ba chi tức Trung chi, Tiền chi, Hậu chi, Chánh quản dinh thống lĩnh toàn dinh, Phó quản dinh thống lĩnh Trung chi. Đây là đợt cải cách tổ chức lớn trong thủy quân của Nguyễn Ánh. Về sau thủy quân trong quân Nguyễn Ánh tập trung vào Trung quân, tức Trung quân vừa là một quân đoàn vừa là một binh chủng.

Về chiến thuyền, trong thư viết từ Chợ Quán ngày 4. 3. 1790, Linh mục Jean de Jesus Maria ghi nhận Ánh có khoảng 10 chiếc tàu Bồ Đào Nha và 1 tàu Pháp, tuy là tàu buôn nhưng có đủ khí giới. Song số tàu phương Tây mua được chỉ có hạn, nên từ 1788 trở đi Nguyễn Ánh rất quan tâm tới việc chế tạo chiến thuyền.

Năm 1789 sai các quân đóng chiến thuyền lớn hơn 40 chiếc, thuyền đi biển hơn 100 chiếc, lại sai các nha văn võ cùng các đạo thủ thuộc các dinh Trấn Biên, Trấn Định và Vĩnh Trấn đi lấy ván gỗ để nộp. Những dân phu lũy, sái phu và cục tượng các dinh, các đội nậu biệt nạp, thuộc binh các nha, cứ 40 người thì nộp ván đóng một chiếc thuyền, các đạo thủ thì Long Xuyên nộp 10 chiếc, Kiên Giang nộp 3 chiếc, Trấn Giang nộp 5 chiếc, Phú Quốc nộp 8 chiếc.

Năm 1791 lại đóng hơn 100 chiến thuyền, sai Tri Tào vụ Lê Đăng Trung và Khâm sai Cai cơ Nguyễn Ngọc Tốt đem lính thợ chia nhau lên Quang Hóa và Campuchia tìm gỗ.

Năm 1792 đóng năm đại hiệu thuyền Hoàng long, Xích nhạn, Thanh tước, Bạch yến, Huyền hạc (đặt tên theo năm màu vàng đỏ xanh trắng đen). Năm 1802 sứ bộ Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh, Huỳnh Ngọc Uẩn qua Trung Quốc đã đi hai chiếc Bạch yến, Huyền hạc trong năm đại hiệu thuyền này.

Năm 1793 đóng thêm các thuyền Long ngự, Long thượng, Long hưng, Long phi, Bằng phi, Phượng phi, Hồng phi, Loan phi, Ưng phi.

Năm 1796 đóng 15 đại hiệu thuyền chữ Gia xếp theo tam tài và thập nhị chi, gồm thuyền Gia hưng hiệu chữ Thiên, thuyền Gia khánh hiệu chữ Địa, thuyền Gia nguyên hiệu chữ Nhân, thuyền Gia hạnh hiệu chữ Tý, thuyền Gia trinh hiệu chữ Sửu, thuyền Gia tường hiệu chữ Dần, thuyền Gia minh hiệu chữ Mão, thuyền Gia hòa hiệu chữ Thìn, thuyền Gia trị hiệu chữ Tỵ, thuyền Gia thịnh hiệu chữ Ngọ, thuyền Gia vĩnh hiệu chữ Mùi, thuyền Gia hựu hiệu chữ Thân, thuyền Gia hy hiệu chữ Dậu, thuyền Gia hội hiệu chữ Tuất, thuyền Gia thiện hiệu chữ Hợi, đặt 15 Tĩnh hải úy chia nhau cai quản. Qua 1797 lại thấy sai bọn Chánh Phó Phi kỵ Tuần hải đô dinh là Hoàng Trung Đồng, La Á Lục chia nhau quản 19 đại hiệu thuyền Long ngự, Long hưng, Long thượng, Long đại, Long nhất, Long nhị, Long tam, Phượng đại, Phượng nhị, Hồng đại, Hồng nhị, Hồng tam, Loan đại, Loan nhất, Loan nhị, Long tam, Bằng đại, Bằng nhất, Bằng nhị, Bằng tam.

Cuối 1797 sai các quân đóng thêm 50 thuyền đi biển, 100 thuyền sai và 200 thuyền chiến. Đầu 1798 sai các đội Mộc đĩnh ở Chính dinh đi Quang Hóa (Tây Ninh) tìm ván gỗ để đóng thuyền chiến lớn và thuyền kiểu Tây dương.

Cuối 1799 đóng thêm 100 chiến thuyền, sai tinh binh thuộc quân lạc tòng và các nha văn võ, quản quân các đạo lấy gỗ để nộp (cứ 50 người phải nộp một chiếc).

Năm 1801, sai Hữu Tham tri bộ Công Nguyễn Khắc Thiệu đem hai cơ Kiên Châu và Thiện Châu cùng hơn 390 thợ thuộc Công bộ về Gia Định đóng 200 thuyền ô, thuyền sai và thuyền chiến. Sau khi chiếm Phú Xuân, Nguyễn Ánh vẫn sai Gia Định đóng chiến thuyền, tất cả 10 chiếc có hiệu là Anh, Vũ, Thước, Nga, Quyên, Phu, Lộ, Diên, Chiên, Ly (đều đặt tên chim, theo thứ tự là ác mó, vẹt, quạ, ngỗng, cuốc, vịt trời, cò, diều hâu, chim cắt, chim oanh).

Trang bị của thủy quân Nguyễn Ánh thời gian 1788 – 1802

Về trang bị kỹ thuật, sự phát triển thủy quân của Nguyễn Ánh trước 1802 đánh dấu một bước phát triển của thủy quân Việt Nam thời phong kiến. Gia Định thành thông chí chép năm 1778, Nguyễn Ánh chiếm lại được Gia Định, nhưng Tổng đốc Châu, hổ tướng Hãn và Tư khấu Oai của Tây Sơn còn dùng thủy binh qua lại dọc theo đường sông vùng Biên Hòa, Sài Gòn và Mỹ Tho để chống đánh, lại được Hộ giá Tây Sơn Phạm Ngạn từ Quy Nhơn vào tiếp viện, đôi bên giằng co. Quân Nguyễn Ánh đắp lũy từ bờ tây Bến Nghé tới bến sông An Thông, các cửa rạch đều cắm cọc gỗ để chống giữ, Lê Văn Quân lại ngầm đóng 50 chiến thuyền ở sông nhỏ Thị Tính trong sông An Thông, loại thuyền ấy “đầu nhọn, thân và đầu thuyền có gác ba tấm ván giống như kiểu tàu Tây dương treo giăng mặt lưới, tên là Long lân thuyền (thuyền vảy rồng)”, đêm 19 tháng 6 âl. ra sông lớn Bình Dương đánh úp thủy quân Tây Sơn, chém được Tư khấu Oai, quân Tây Sơn chạy về Quy Nhơn. Loại “thuyền vảy rồng” này thấy Đại Nam Liệt truyện Tiền biên, Truyện Nguyễn Cửu Dật nhắc tới, rõ ràng là một loại chiến thuyền của quân đội Đàng Trong.

Đến 1780, Ốc nha Suất ở Trà Vinh làm phản, tháng 4 âl. Nguyễn Ánh sai Đỗ Thanh Nhơn, Dương Công Trừng đi đánh thì chiến thuyền của quân Nguyễn Ánh bắt đầu được cải tiến. Lúc ấy quân của Suất dựa vào rừng sâu chằm lớn, dùng nỏ cứng làm võ khí sở trường, quân Nguyễn đánh không được. Dương Công Trừng sai quân dùng vòng sắt móc liền các chiến thuyền với nhau, bắc sàn ở trên, kèm dựng cây chuối để đỡ tên đạn, nhân nước thủy triều lên cho thuyền đến sát lũy để đánh. Quân của Suất mất thế hiểm vỡ chạy. Cải tiến kết hợp binh khí kỹ thuật với chiến thuật kiểu này được phát triển thêm ngay sau đó. Tháng 7 âl. năm ấy Nguyễn Ánh sai quân lên Quang Hóa Tây Ninh lấy gỗ sao đóng chiến thuyền. Gia Định thành thông chí mô tả loại chiến thuyền này có hai bánh lái, bánh lái dài phía sau dùng đi biển, bánh lái tròn phía trước dùng đi sông, gọi là thuyền hai bánh lái, trên thuyền gác sàn, hai bên có phên tre che cho thủy binh ở dưới chuyên lực chèo chống, trên thì đặt bộ binh để xung trận, nhờ đó kỹ thuật thủy chiến càng tinh vi. Loại thuyền này qua đầu thế kỷ XIX vẫn còn được thủy quân triều Nguyễn sử dụng.

Ngoài việc được trang bị binh khí kỹ thuật phương Tây từ trước 1788, thủy quân Nguyễn Ánh còn có nhiều yếu tố trang bị kỹ thuật Hoa Nam. Sử chép năm 1785 Tuần hải đô dinh Hà Hỷ Văn của Nguyễn Ánh (vốn là cướp biển người Hoa trong vịnh Thái Lan theo hàng) đã đem binh thuyền bản bộ đi Liêm Châu chiêu dụ được 23 thuyền cướp biển Tề Ngôi về theo. Cần nói thêm rằng quân Tề Ngôi có kỹ thuật thủy chiến rất tinh vi, Quang Trung từng mua chuộc sai họ cướp phá quấy nhiễu vùng duyên hải phía nam Trung Quốc, và đến 1794 người ta đã thấy sự hiện diện của chiến thuyền Tề Ngôi trong thủy quân Tây Sơn.

Về chiến thuật, hiện không có tài liệu nào cho biết cụ thể, song căn cứ vào Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ trong đó miêu tả cặn kẽ về các khí cụ thủy chiến như câu liêm, tên lửa…, có thể thấy thủy quân thời Đàng Trong vẫn tiến hành chiến đấu tương tự bộ binh, nghĩa là dùng tên có chất dẫn lửa bắn cháy để kìm chế tốc độ, kế dùng câu liêm móc giữ thuyền đối phương rồi nhảy qua cận chiến để giải quyết chiến trường. Nhưng đến cuối thế kỷ XVIII thì chiến thuật của thủy quân Nguyễn Ánh đã từng bước hiện đại hóa theo với sự hiện đại hóa về binh khí kỹ thuật mà cụ thể là tốc độ và độ bền của chiến thuyền, tầm bắn và mức độ chính xác của đại bác. Dĩ nhiên cái gọi là “hiện đại hóa” ở đây là so với hoàn cảnh kỹ thu���t đương thời, mặt khác cũng có sự đan xen giữa các loại binh khí kỹ thuật khác nhau dẫn tới sự phối hợp nhiều chiến thuật tương ứng khác nhau.

Các viên Chưởng Tiền phong dinh trong quân Nguyễn Ánh

Trước 1788 không thấy trong quân Nguyễn Ánh có dinh Tiên phong, nhưng giữa 1788, khi Ánh từ Xiêm về Gia Định, Võ Tánh đem quân Kiến Hòa về theo thì được Ánh phong làm Khâm sai Tổng nhung Chưởng cơ dinh Tiên phong, rõ ràng dinh Tiên phong đã hình thành trên cơ sở quân bản bộ của Võ Tánh. Năm 1790 Tánh bị giáng làm Khâm sai Tổng nhung Cai cơ, nhưng vẫn quản dinh Tiên phong. Năm 1791 Nguyễn Ánh lấy Chưởng Hậu quân dinh Tôn Thất Hội làm Chưởng Tiền quân dinh, Cai cơ Tiên phong dinh Võ Tánh quản Hậu quân dinh, Hiệu úy Tiền chi Trung quân dinh Nguyễn Văn Thành quản Tiên phong dinh. Đến 1793, phong Chưởng Tiền quân dinh Tôn Thất Hội làm Khâm sai Bình Tây Đại tướng quân, quản Hậu quân dinh Võ Tánh làm Khâm sai Chưởng Hậu quân Bình Tây Tham thặng tướng quân, quản Hữu quân dinh Nguyễn Huỳnh Đức làm Khâm sai Chưởng Hữu quân Bình Tây Phó tướng quân, quản Tiên phong dinh Nguyễn Văn Thành làm Khâm sai Bình Tây Tiền tướng quân… Cuối 1798 Tôn Thất Hội chết, lấy Nguyễn Văn Thành làm Chưởng Tiền quân, lấy Phó tướng Tiên phong dinh Nguyễn Văn Tánh quản Tiên phong dinh. Tựu trung đến 1802 quân Nguyễn Ánh có ba người là Võ Tánh, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Tánh lần lượt giữ chức Chưởng Tiên phong dinh.

Nguyễn Văn Tánh người Long Thành Biên Hòa, lúc đầu theo Châu Văn Tiếp làm quan tới chức Khâm sai Tổng nhung Cai cơ, theo Tiếp sang Bangkok. Khi Tánh về Tiếp đã chết, Ánh cho theo Chưởng Tiền quân Lê Văn Quân, năm 1788 giữ đạo Đồng Môn, đến 1793 làm Lưu thủ Bình Thuận. Năm 1795 theo Nguyễn Ánh giải vây thành Diên Khánh, được thăng Phó tướng Tiên phong dinh, đến 1798 được thăng quản Tiên phong dinh. Năm 1803 được thăng làm Khâm sai Chưởng Tiên phong dinh, Án trấn thành Diên Khánh, thống quản các dinh Bình Khang, Diên Khánh, Bình Thuận, năm 1805 chết ở nơi làm quan.

Tánh là người can đảm nơi trận mạc nhưng nhút nhát trong triều đình, năm 1800 đóng quân ở Phú Yên giữ nhau với quân Tây Sơn, mắc bệnh thổ huyết không coi quân được, Nguyễn Văn Thành phải dâng biểu xin lấy Tôn Thọ Vinh (ông nội Tôn Thọ Tường) tạm lãnh quân để Tánh dưỡng bệnh. Gặp lúc Lưu thủ Phiên Trấn Tống Phước Ngoạn đưa quân Chân Lạp từ Gia Định tới, ghé Phú Yên thăm Tánh rồi tới nói với Nguyễn Ánh là thấy Tánh đi đứng bình thường, không có vẻ gì là ốm nặng, nói thổ huyết có khi là dối, chỉ là uống tiết vịt thôi. Tánh nghe tin sợ lắm, vội gởi thư cho Lại bộ Nguyễn Bảo Trí nhờ biện bạch giúp, đến khi khỏi bệnh tới yết kiến Nguyễn Ánh vẫn còn sợ sệt, Ánh phải an ủi mãi mới yên tâm, xem ra con người này không phải kẻ tâm cơ sâu sắc đủ để đứng trong chính trường, mà chỉ có thể cúc cung tận tụy làm tròn chức phận võ thần thời loạn mà thôi.

Sài Gòn-Gia Định và chúa Nguyễn Ánh

(nguồn : nghiencuulichsu.com)

Cuộc biểu dương vĩ đại của lòng dân...

Cuộc biểu tình ngày chủ nhật 2/10/2016 trước cửa công ty Formosa là cuộc xuống đường lớn nhất, mạnh mẽ nhất, được tổ chức tốt nhất và cũng thành công nhất trong hàng loạt các cuộc biểu tình trên cả nước trước thảm họa Formosa từ đầu tháng 5/2016 đến giờ. Có trên 15.000 đồng bào cả lương lẫn giáo miền Trung đã tham gia vào cuộc biểu dương vĩ đại của lòng dân miền Trung, mà cũng là cả lòng dân Việt Nam...

Không hẹn mà nên, các nhóm giáo dân xuống đường do linh mục Phedro Trần Đình Lai dẫn dắt đã được các giáo dân và lương dân ở quanh vùng Vũng Áng kéo đến trợ giúp hết mình và tất cả đã biến ngày xuống đường 2/10/2016 này thành một ngày biểu thị sức mạnh kinh hồn có thể dời sông lấp bể của đồng bào miền Trung, không phân biệt lương hay giáo. Một cuộc biểu dương của các lực lượng bị áp bức, một cuộc xuống đường của sự phẫn nộ, tiếng gào thét uất nghẹn của hàng triệu số phận đang quằn mình trong thảm họa Formosa và lời cảnh tỉnh đanh thép gửi cho chính quyền rằng, chúng tôi đã khốn khổ vượt quá sức chịu đựng lắm rồi...

Có vài vụ xô sát lẻ tẻ giữa người biểu tình và lực lượng CSCĐ nhưng không đáng kể, và cũng là bình thường trong một cuộc biểu dương lực lượng đông người đến như thế. Cuối cùng thì không chịu nổi sức mạnh ngày càng đông của người dân, từ khắp các nơi đổ về, các lực lượng CSCĐ cũng phải rút lui trong hỗn loạn. Một số phải cởi bỏ sắc phục, mặc thường phục để trà trộn rút lui vì biết đường về nhà còn xa lắm.

Bà con ào tới, leo lên hàng tường rào nhà Formosa phất cờ hò reo chiến thắng. Hẳn lúc này những kẻ thủ ác Formosa đang hồn siêu phách lạc và chờ cơn thịnh nộ của lòng dân Việt Nam giáng xuống. Nhưng không, giữa chiến trường chiến thắng khi kẻ tội đồ Formosa đã phơi mình chịu chết thì lệnh lui quân đã ban hành. Tiếng người chỉ huy vang lên rõ ràng :"nếu muốn chúng tôi sẽ tiến vào với cả triệu người". Vâng. Đúng như vậy. Formosa phải đền tiền xứng đáng cho người dân, chứ không phải bị giết. Formosa phải cút xéo chứ không phải bị báo thù, và Formosa không phải là kẻ duy nhất chịu trách nhiệm về thảm họa này...

Và cuộc biểu dương của lòng dân đã dừng ở đúng thời điểm tốt nhất có thể để không đi đến mức mất kiểm soát hơn. Các vị chủ chăn, những cha xứ can đảm đã tạo nên cuộc biểu dương lực lượng lớn này đã quyết định dừng lại đúng lúc khi đã thành công trong tầm mức ôn hòa bất bạo động của tinh thần Thiên Chúa Giáo. Có thể ai đó có chút tiếc nuối nhưng quyết định của những người dẫn dắt này là hợp lý và có thể hiểu được. Chúng ta ở xa và nên hiểu cho đúng tinh thần cũng như thực tế của như những người đứng ở thực địa tuyến đầu.

Cuộc biểu dương lực lượng đã thành công khi nó là một lời cảnh tỉnh đanh thép gửi tới chính quyền rằng, các người phải đứng về phía người dân chứ không phải phía Formosa. Các người phải ở phía những người khốn khổ vì thảm họa chứ không phải phía gây thảm họa. Và báo trước sẽ còn những cơn sóng dữ nữa của lòng dân sôi sục.

Cuộc biểu tình của lòng dân này với sự nòng cốt của giáo dân do các linh mục dẫn dắt cũng chứng tỏ được kỷ luật của một cuộc biểu tình có tổ chức. Nó không bạo động, không mất kiểm soát mà diễn ra một cách hòa bình trật tự theo đúng tinh thần của những người tổ chức. Và nó xứng đáng là một cái tát vào mặt bà chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân khi bà này tuyên bố để không trình QH thông qua dự luật biểu tình :"Cho biểu tình lúc này là làm loạn xã hội"

Bài học hôm nay cho chính quyền tỉnh Hà Tĩnh và cho cả chính quyền Trung Ương đến các địa phương khác rằng, không thể dùng vũ lực với lòng dân khi nó nổi cơn sóng dữ được. Hãy đi cùng chứ không phải đối nghịch với lòng dân, nếu không muốn bị nó cuốn phăng đi...

Cuộc biểu dương lực lượng này không phải là lần đầu tiên và cũng sẽ không phải là lần cuối cùng...

MTA

Trận thủy chiến Bạch Đằng 1288

Mờ sáng ngày 9 tháng 4 năm 1288, tức mùng tám tháng ba năm Mậu Tý, đoàn thuyền chiến Ô Mã Nhi xuôi Đá Bạc tiến xuống sông Bạch Đằng. Đội tiền quân do tham chính Phàn Tiếp chỉ huy đi đầu. Lúc đó, nước triều vẫn còn mênh mông.

Ngày 9 đúng vào độ nước cường, triều dâng cao và lên xuống mạnh. Dự tính về con nước triều cao nhất vào nửa đêm hôm trước, 8 tháng 4, là 3,20m và thấp nhất là 0,90m vào buổi trưa ngày sau. Như vậy, độ chênh lệch là 2,30m. Triều xuống mạnh nhất vào gần trưa, nước có thể rút 0,30m trong 1 giờ, chảy xiết (Nguyễn Ngọc Thúy, bài Về con nước triều trong trận Bạch Đằng 1288, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 63, tháng 6-1964.).

Trên các mỏm núi, trong các nhánh sông, các chiến sĩ ta đã chỉnh tề cung tên, gươm giáo chờ lúc nước triều xuống mạnh và đoàn binh thuyền Ô Mã Nhi lọt vào sông Bạch Đàng mới đổ ra quyết chiến.
Nước triều xuống mạnh, cuộc chiến đấu bắt đầu.

Trần Quốc Tuấn cho “một đội thuyền khiêu chiến, rồi giả cách thua chạy” (Đại việt sử ký toàn thư, sách đã dẫn, t. II, tr. 61). Giặc đuổi theo, đội thuyền đi đầu của Phàn Tiếp tiến lên phía trước.

Nước triều xuống mạnh hơn. Từ các nhánh sông, những đội thuyền nhẹ của ta vun vút lao ra đánh tạt sườn đội tiền quân địch, gây cho chúng những thiệt hại đầu tiên. Bị nhiều đợt đột kích vào sườn, đội hình thuyền địch trở nên lộn xộn. Chúng lúng túng không sao tiến nhanh đuợc nữa. Thế địch dưới sông càng trở nên bất lợi. Phàn Tiếp vội vàng đưa thuyền áp sát vào phía Tràng Kênh và thúc quân đổ lên bờ “chiếm lấy núi cao”(An Nam chí lược, q. 4, sách đã dẫn). Chúng muốn giành lấy điểm cao để chống lại quân ta, hỗ trợ cho trung quân và hậu quân chúng rút lui an toàn.

Địch đã lọt vào trận địa mai phục của ta. Trống lệnh nổi liên hồi, cờ hiệu bay phấp phới. Bộ phận quân ta phục sẵn ở các áng núi Tràng Kênh gồm cả quân chủ lực và dân binh d¬ưới quyền chỉ huy của Trần Quốc Bảo – liền xông ra quyết chiến. Từ trên núi, quân ta đánh hất địch xuống hết đợt này đến đợt khác, quyết không cho địch chiếm núi.

Bấy giờ đại quân địch do Ô Mã Nhi thống lĩnh cũng vừa đổ vào sông Bạch Đằng. Những thuyền chiến Quảng Đông to lớn, đóng toàn bằng gỗ tốt, nặng nề trôi về hướng ghềnh Cốc. Một bộ phận đi đầu cố tránh quãng ghềnh cạn, dồn đội hình lại, định vượt qua quãng ghềnh sâu. Lợi dụng lúc địch còn lúng túng vội vã điều chỉnh đội hình, quân Thánh dực nghĩa dũng lộ Hồng Khoái (Hải Dương và Hưng Yên) do tiết chế Nguyễn Khoái chỉ huy, với hàng trăm thuyền chiến cùng quân các lộ liền từ các lạch sông, căng hết tay chèo lao nhanh ra tiến công vào giữa đội hình địch. Một số thuyền giặc luống cuống va vào quãng ghềnh cạn, chiếc bị đắm, chiếc lật nghiêng. Những chiếc khác hốt hoảng giạt sang một bên, bị thủy binh ta xông vào tiêu diệt. Các thuyền chiến của Nguyễn Khoái tả xung hữu đột trên quãng sông ghềnh Cốc, hình thành một tuyến ngang sông chặn đứng địch lại (Nguyên sử, q.3 chép rõ: “thuyền giặc (chỉ quân ta – T.G.) đón chắn ngang sông Bạch Đằng?. Bài bia Lý Thiên Hữu, viên văn thư của Ô Mã Nhi, chép trong tập Từ khê văn cảo của Tô Thiên Tước nói rõ: ?otháng ba (âm lịch) đến cảng Bạch Đằng, ngư¬ời Giao chắn ngang chiến hạm để chống cự quân ta (chỉ quân Nguyên – T.G. ). Đến lúc triều xuống, không tiến lên được, quân tan vỡ, bọn Hầu (chỉ Lý Thiên Hữu) bị bắt”.).

Cùng lúc, các đạo thủy binh Hải Đông, Vân Trà từ phía Điền Công, Gia Đước, sông Thải, sông Giá cũng nhanh chóng nhất tề tiến ra. Tiếng trống lệnh vang lên khắp các ngả sông.

Bị các đội thủy quân của ta từ nhiều phía công kích, “bắn tên tới như mưa” (Nguyên sử, q. 166, Phàn Tiếp truyện), thuyền địch dần dần bị dồn cả về bên tả ngạn. Ô Mã Nhi phải thúc thuyền tiến về các hướng cửa sông Chanh, sông Kênh, sông Rút tìm đường chạy trốn.

Bấy giờ là quãng gần trưa. Thủy triều rút rất nhanh, nước xuống đến mức thấp nhất. Các trận địa cọc trước đó vẫn im lìm ẩn dưới làn nước mênh mông, giờ bỗng xuất hiện như vùng lên cùng người đánh giặc.

Bị nước triều ào ào đẩy xuôi lại bị đánh gấp sau lưng, thuyền giặc lớp trước lớp sau cứ thế vùn vụt đâm vào các trận địa cọc. Hoàn toàn bất ngờ, nhiều thuyền bị cọc đâm thủng, bị đắm, hoặc “bị mắc cạn không tiến lên được” (Nguyên sử. q.166, Trương Ngọc truyện.), chật nghẽn cả các cửa sông.

Cuộc chiến đấu diễn ra hết sức ác liệt. Từng trận mưa tên tẩm thuốc độc trùm lên đầu giặc. Thuyền chiến của ta áp vào sát địch đánh gần; quân ta dùng gươm, câu liêm hai lưỡi, lưỡi quắm, giáo dài, ngạnh lớn, dùi bốn cạnh đâm chém vô số quân giặc (Những vũ khí thời Trần đã đào dược ở chùa Bút Tháp Hà Nội, hiện tàng trữ ở Viện Bảo tàng lịch sử).

Đúng lúc đó, các bè nứa thuyền nan chứa đầy chất dễ cháy giấu sẵn ở vùng Tràng Kênh, các làng Do Lễ, Phục Lễ, Phả Lễ, được các đội dân binh nổi lửa dốt cháy và thả xuôi dòng nước lao nhanh vào giữa các thuyền giặc đang hỗn loạn, tắc nghẽn trước các hàng cọc. Nhiều chiếc thuyền giặc bắt lửa, ngùn ngụt bốc cháy, thiêu sống những tên giặc trên thuyền, rồi chìm nghỉm.

Trên đà thắng lợi, quân dân ta càng hăng hái diệt địch. Phía núi Tràng Kênh, quân ta vừa dùng cung tên, vừa đánh gần, gạt toàn bộ đội quân Phàn Tiếp xuống sông. Địch bị chết, bị thương không kể xiết. Phàn Tiếp bị trúng tên, nhảy xuống nước, bị quân ta lấy câu liêm móc lên và bắt sống (Nguyên sử, q.166, Phàn Tiếp truyện chép: Tiếp bị thương, nhảy xuống nước, giặc (chỉ quân ta) lấy câu liêm móc lên. Toàn thư nói quân ta bắt sống được Phàn Tiếp.).

Đương khi thủy chiến, hỏa công quyết liệt thì đoàn thuyền chiến của hai vua Trần, theo kế hoạch định trước, cũng theo đà nước xuống, cố sức chèo mạnh để kịp thời đánh vào hậu quân địch. Đại Việt sử ký toàn thư chép: Khi đến trận địa, hai vua “tung quân đánh rất hăng”.

Đòn của hai vua Trần đánh vào sau lưng địch đã khiến cho chúng càng bị động, lúng túng, bị thiệt hại rất nặng. Thủy binh địch trước mặt, sau lưng, hai bên đều bị đòn đánh. Phạm vi chiến trường trải dài suốt cả một vùng sông. Căn cứ vào hiệu lực các phương tiện chiến đấu, thông tin liên lạc mà đoán định số thuyền giặc với 600 chiếc khi lọt vào trận địa, nếu dàn hàng ngang 5-6 chiếc trên sông, mỗi hàng cách nhau từ 30 mét trở lên thì cả đoàn thuyền phải kéo dài ít nhất là 5 ki-lô-mét. Điều này phù hợp với thư tịch và truyền thuyết dân gian nói rõ phạm vi chiến trường từ rừng núi Tràng Kênh đến cửa sông Chanh. Trên cả khúc sông rộng, máu giặc chảy lênh láng, “nước sông đến nỗi đỏ ngầu máu? (Đại Việt sử ký toàn thư, sách đã dẫn, t.II, tr.61). Chủ tướng Ô Mã Nhi bị quân ta bắt sống.

Số địch còn lại cố sức chạy lên phía tả ngạn Yên Hưng hòng trốn thoát. Nhưng vừa lên đến bờ thì chúng vấp phái các chiến sĩ bộ binh ta phục sẵn từ trước, nhanh chóng đổ ra tiêu diệt. Sức tàn, lực kiệt, hầu hết bọn này đã suy yếu không chống đỡ nổi những mũi tên, đường kiếm của quân ta.

Đội quân bố trí đón sẵn trên bộ đã hợp đồng chặt chẽ với thủy binh. Trận thủy chiến trên sông diệt phần lớn sinh lực địch thì trận đánh trên bộ lại bồi thêm cho chúng một đòn chí tứ. Nhân dân địa phương vùng Hà Nam (Yên Hưng) nói rằng chính Trần Quốc Tuấn đã đặt sở chỉ huy bên tả ngạn sông Bạch Đằng và trực tiếp chỉ huy các đơn vị bộ binh đánh tiêu diệt đám quân giặc chạy lên tả ngạn. Các cụ còn kể lại: vị lão tướng anh hùng ấy cưỡi con ngựa bạch to lớn đứng trên gò đất cao giữa cánh đồng làng Trung Bản (Yên Hưng) cầm kiếm chỉ huy ba quân. Dưới quyền chỉ huy của ông, quân và dân ta mai phục bên sông đã xông lên chiến đấu cực kỳ dũng cảm và mãnh liệt, bắt được tướng giặc là Phạm Nhan và tiêu diệt gần hết bọn chúng, thây giặc nằm ngổn ngang.

Trận đánh trên bộ cũng không kém gay go, ác liệt. Trương Hán Siêu nói: “Chiết kích trầm giang, khô cốt doanh khâu?, nghĩa là: giáo mác chìm sông, xương khô đầy gò.

Đến chiều, trận đánh vô cùng ác liệt và oai hùng trên sông Bạch Đằng kết thúc (Nguyên sử, q. 166, Phàn Tiếp truyện chép: lục chiến từ giờ Mão đến giờ Dậu, tức là từ sáng đến chiều). Cả một đoàn binh thuyền lớn của Ô Mã Nhi thế là bị tiêu diệt hoàn toàn, đúng như Trương Hán Siêu dã mô tả:

Bấy giờ:

Muôn dặm thuyền bè, tinh kỳ phấp phới
Sáu quân oai hùng, gươm giáo sáng chói
Sống mái chưa phân, Bắc Nam lũy đối
Trời đất rung rinh (chừ) sắp tan.
Nhật nguyệt u ám (chừ) mờ tối…
(Phú sông Bạch Đằng)

Bài phú quả đã nói lên cái hùng khí của quân dân ta trong giờ phút lịch sử, cái dũng cảm tuyệt vời của các chiến sĩ quyết xả thân vì nước.

Ngoài hai chủ tướng Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp bị bắt, tên dại quý tộc Mông Cổ tước vương Tích Lệ Cơ à bọn bộ hạ cũng bị bắt sống. Ta còn thu được hơn 400 thuyền chiến. Toàn bộ quân địch rút lui bằng đường thủy đều bị tiêu diệt.

Sau đó quân dân Đại Việt lại tiếp tục chặn đánh và truy kích dạo kỵ binh và bộ binh do Thoát Hoan chỉ huy, theo đường Lạng Sơn về nước. Tin đại thắng Bạch Đằng nhanh chóng truyền lan khắp nước, càng làm nức lòng quân dân Đại Việt, là nguồn cổ vũ mạnh mẽ đối với các chiến sĩ miền biên giới hăng hái xông lên tiêu diệt đạo quân Thoát Hoan. Những chiến thắng to lớn ở cửa quan Hãm Sa, các ải Nội Bàng, Nữ Nhi, Khưu Cấp (đều thuộc Bắc Giang và Lạng Sơn) đã liên tiếp giáng cho đạo quân này những đòn thất bại nặng nề. Hàng vạn quân địch phơi xác trên đường rút chạy. Và cuối cùng, mãi đến ngày 19 tháng 4 năm 1288, Thoát Hoan đành giải tán nốt đám tàn quân bại trận của hắn ở châu Tư Minh (Quảng Tây, Trung Quốc).

Chín ngày sau trận đại thắng 18 tháng 4, hai vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông đem đám tù binh gồm Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ, Phàn Tiếp và những tên thiên hộ, vạn hộ về phủ Long Hưng làm lễ mừng thắng trận trước lăng vua Trần Thái Tông, người lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Cổ lần thứ nhất năm 1258.

Chiến thắng Bạch Đàng hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ tiêu diệt đạo quân rút lui đường thủy của Ô Mã Nhi, là trận quyết chiến lớn nhất, kết thúc cuộc kháng chiến chống Nguyên thứ ba. Một đạo quân lớn trên 6 vạn người, giàu kinh nghiệm xâm lược, những tên tướng quý tộc, cao cấp thân cận của Hốt Tất Liệt, sừng sỏ nhất độc ác nhất như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ, Lưu Khuê, sau mấy lần giày xéo đất nước ta, đã phải đền tội.

Đế quốc Mông Cổ ở thế kỷ XIII đã chiếm toàn bộ nước Nga, một số nước Đông âu, miền Trung Á, Ba Tư và toàn bộ Trung Quốc, là đế quốc rộng lớn từ Á sang Âu, lớn vào bậc nhất thời kỳ Trung cổ. Quân xâm lược của đế quốc đó đã bị chặn đứng trên đất nước Đại Việt.

Ba lần gây chiến xâm lược, ba lần bị thất bại thảm hại. Từ đấy đế quốc Mông – Nguyên vĩnh viễn không dám đem quân xâm phạm nước ta lần nữa. Chiến thắng Bạch Đằng oanh liệt cùng với những chiến thắng liên tiếp tiêu diệt đạo quân bộ của Thoát Hoan, đã kết thúc thắng lợi cuộc chiến đấu trường kỳ của dân tộc ta, báo vệ độc lập Tổ quốc khẳng định sự tồn tại vừng vàng, hiên ngang của nước Đại Việt ta sát cạnh một đế quốc lớn mạnh nhất thế giới đầy âm mưu và tham vọng xâm lược thời kỳ bấy giờ.

(Chiến thuyền nhẹ của nhà Trần bao vây và phóng đạn dầu cháy vào chiến hạm quân Nguyên khi bị sa vào bãi cọc trong trận Bạch Đằng 1288.)

(nguồn : nghiencuulichsu.com)