Hiển thị các bài đăng có nhãn Liên Xô. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Liên Xô. Hiển thị tất cả bài đăng

6/7/16

Cuộc tập trận lớn nhất và khả năng can thiệp quân sự của Liên Xô 1979


Trong cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc vào Việt Nam năm 1979, Liên Xô không tấn công quân sự vào Trung Quốc. Cuộc tập trận lớn nhất lịch sử quân sự và liệu Liên Xô có tấn công quân sự vào Trung Quốc không ?


Cuoc chien tranh 17-2-1979: Nguong can thiep quan su cua Lien Xo - Anh 1
Cuộc tập trận của Liên Xô “Phương Tây 81”, năm 1981)

Điều đó giải thích ra sao?
Trước cuộc tấn công của Trung Quốc vào toàn tuyến biên giới phía bắc Việt Nam, Liên Xô cảnh cáo “Liên bang Xô Viết sẽ thực hiện những điều khoản đã ký kết Trong Hiệp định hợp tác, đoàn kết hữu nghị và tương trợ lẫn nhau (trong cả lĩnh vực quân sự) đã được ký với Việt Nam”. Trong đó có ghi sẽ sử dụng mọi biện pháp, có cả quân sự để giúp Việt Nam trong trường hợp Việt Nam bị một nước thứ ba xâm chiếm.
Để biểu thị sự ủng hộ đối với Việt Nam và răn đe Trung Quốc, một cuộc biểu dương lực lượng khổng lồ dưới dạng một cuộc tập trận Hiệp đồng quân binh chủng lớn nhất trong lịch sử, đã được Liên Xô tổ chức vào đầu tháng 3-1979.
Cuộc động binh lớn nhất trong lịch sử nước Nga và lịch sử thế giới
Bình luận về cuộc tập trận này, chuyên gia Aleksei Lensov cho biết, đó là cuộc biểu dương lực lượng mạnh mẽ nhất ở phía nam Liên Xô (tức phía Bắc Trung Quốc) trong vòng hơn hai trăm năm, với lực lượng được huy động lên đến 600.000 người, thuộc 6 quân khu của Liên Xô.
Trong giai đoạn từ ngày 12 đến 26-3, với mục đích tạo áp lực quân sự lên Trung Quốc, theo quyết định của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô, quân đội nước này đã tiến hành cuộc diễn tập hiệp đồng quân binh chủng và diễn tập hải quân có sử dụng đạn thật.
Cuộc tập trận được triển khai trên tất cả các quân khu vùng biên giới phía Đông, trên lãnh thổ Mông Cổ và trên biển Thái Bình Dương, huy động lực lượng của 29 sư đoàn bộ binh cơ giới, với số quân lên đến 250.000 quân nhân, 2.600 xe tăng, 900 máy bay và 80 chiến hạm.
Cuộc diễn tập bắt đầu bằng lệnh động viên và chuyển các đơn vị vào tình trạng sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Quân đội Liên Xô đã động viên 52.000 quân nhân dự bị, huy động hơn 5.000 xe máy của nông nghiệp sang phục vụ yêu cầu sẵn sàng chiến đấu.
Các trung đoàn máy bay chiến đấu từ lãnh thổ của Ukraine và Belarus cũng được điều chuyển đến miền đông Liên Xô, trong đó có một sư đoàn được triển khai ở Mông Cổ, trên một sân bay trọng yếu, chỉ cách Bắc Kinh 1,5 giờ bay.
Các cuộc chuyển quân trên của Không quân Xô Viết bao gồm toàn bộ đội hình máy bay chiến đấu, với các phi công được huấn luyện tốt nhất, cùng với tất cả các đơn vị và phân đội bảo dưỡng kỹ thuật trên không và mặt đất.
Trong tiến trình diễn tập, có những khoảng thời gian trong không trung có tới 10 trung đoàn không quân tuyến 1 (đội hình chiến đấu) hoạt động. Các kíp bay đã bay tổng cộng 5.000 giờ, đã sử dụng tới 1.000 quả bom và tên lửa trong diễn tập bắn đạn thật.
Những đợt diễn tập lớn nhất được thực hiện tại Mông Cổ, với sự tham gia của 6 sư đoàn Bộ binh cơ giới và tăng-thiết giáp, 3 trong số các đơn vị được điều động từ Siberia và Zabaikalia.
Ngoài ra, trên lãnh thổ Mông Cổ tham gia diễn tập có 3 sư đoàn không quân chiến trường, 2 lữ đoàn không quân độc lập, các đơn vị và phân đội đặc chủng tăng cường.
Cũng trong giai đoạn đó, Liên Xô cũng đồng thời tiến hành các hoạt động diễn tập thực binh của các lực lượng trên vùng Viễn Đông và Đông Kazakhstan (giáp giới Trung Quốc), với các đơn vị binh chủng hợp thành cấp sư đoàn trở lên và các đơn vị không quân, phối hợp với lực lượng Biên phòng.
Tại các vùng có đường biên giới với Trung Quốc, lực lượng Xô Viết đã diễn tập các phương án tổ chức phòng ngự, đánh trả đội hình tiến công của đối phương, phản kích và chuyển sang phản công. Các đơn vị tên lửa chiến thuật cũng được đặt trong trạng thái báo động chiến đấu.
Cuoc chien tranh 17-2-1979: Nguong can thiep quan su cua Lien Xo - Anh 2
Một phân đội xe tăng Liên Xô tham gia tập trận năm 1979.
Ngoài ra, tại biển Đông và biển Hoa Đông, gần 50 chiến hạm của Hạm đội Thái Bình Dương, trong số đó có 6 tàu ngầm đã trực chiến sẵn sàng chiến đấu và tiến hành tập trận tiêu diệt hải quân đối phương. Tại vùng Primorie (ven biển Viễn Đông) đã diễn ra các cuộc đổ bộ của hải quân đánh bộ Liên Xô.
Những ý đồ tác chiến thật sự nghiêm túc được ông Eugene, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 8 – Trung đoàn 390, thuộc sư đoàn hải quân đánh bộ số 55 miêu tả lại: Vào tháng 2-1979, trung đoàn đã được đặt trong trạng thái có chiến tranh.
Cả đội hình sư đoàn đã thực hiện nhiệm vụ diễn tập chiến thuật trên biên giới với Trung Quốc trong đó có nội dung đổ bộ lên đất liền từ hướng biển, tiến hành các cuộc diễn tập đổ bộ tấn công cấp tiểu đoàn, có sử dụng đạn thật.
Để phục vụ cuộc tập trận này, Liên Xô đã huy động một khối lượng bảo đảm khổng lồ. Chỉ tính lượng dầu tiêu hao trong thời gian thực hiện các hoạt động diễn tập và giúp đỡ Việt nam, Bộ quốc phòng Liên Xô lúc đó đã phải phục hồi lại dự trữ trong vòng hai năm.
Liên Xô sẵn sàng can thiệp quân sự
Trong hồi ký của các cựu quân nhân Liên Xô cho biết, Liên Xô hoàn toàn có khả năng sẽ can thiệp quân sự khi cần thiết và khi đó Trung Quốc đã được cảnh báo trước một điều đã rõ ràng, nếu quân đội của họ không rút khỏi Việt Nam, họ sẽ phải chiến đấu trên hai mặt trận.
Trong trường hợp này, những hành động quân sự nào Liên Xô sẽ thực hiện trong thời điểm ban đầu? Giới chuyên gia quân sự cho rằng, có quá nhiều sự lựa chọn hiệu quả đối với Liên Xô trong các hành động tấn công.
Viễn cảnh đáng lo ngại nhất là những hành động quân sự mà Liên Xô có thể triển khai trên chiều dài 4.500 km đường biên giới Xô – Trung, nơi có 44 sư đoàn sẵn sàng chiến đấu đang đóng quân.
Quân đội Liên Xô với các phương tiện đổ bộ tầm xa hoặc đổ bộ đường không có thể nhanh chóng đổ quân xuống vùng đồng bằng tuyết phủ của Tân Cương, có khả năng tấn công vào khu vực Mãn Châu – trung tâm công nghiệp nặng của Trung Quốc.
Trường hợp xấu nhất là kịch bản “ngày tận thế”, theo cách gọi của các chuyên gia. Đó là đòn tấn công nhằm vào các cơ sở hạt nhân của Trung Quốc ở vùng hồ muối Lop Nor (hay còn gọi là La Bố Bạc) – nằm giữa sa mạc Taklamakan và sa mạc Kuruktag, thuộc phía Đông khu tự trị Duy Ngô Nhĩ – Tân Cương.
Mục tiêu này dường như thích hợp hơn cả trong sự đánh giá của quân đội Liên Xô bởi sự hủy diệt lớn, sức mạnh răn đe cao, tấn công phủ đầu trong tầm với của nhiều loại tên lửa Liên Xô.
Cuoc chien tranh 17-2-1979: Nguong can thiep quan su cua Lien Xo
Vùng hồ muối Lop Nor (hay còn gọi là La Bố Bạc) – vùng tập trung các cơ sở hạt nhân của Trung Quốc
Khi đó, Bộ Chính Trị Trung Quốc cũng đứng trước rất nhiều câu hỏi sinh tử:
Một là, liệu Liên Xô có phản ứng bằng cách tấn công từ phía bắc khiến quân đội Trung Quốc phải chiến đấu trên hai mặt trận?
Hai là liệu Liên Xô có nhân cơ hội để trục lợi từ tình hình căng thẳng Việt Nam-Trung Quốc hay không? Và phản ứng của thế giới, đặc biệt là của Mỹ trước sự gia tăng căng thẳng Trung-Xô sẽ ra sao?
Ba là, liệu leo thang chiến tranh với Việt Nam, dẫn đến sự can thiệp của Liên Xô sẽ gây những khó khăn thế nào đến chương trình hiện đại hóa nền kinh tế trong chiến lược “Cải cách mở cửa” của nước này?
Trong đó, mối lo lắng lớn nhất của nhà cầm quyền Bắc Kinh là phản ứng quân sự khó lường của Liên Xô.
Theo các phân tích tình báo của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Moscow có thể sẽ đưa ra 3 phương án quân sự nhằm đáp trả cuộc xâm lăng của Trung Quốc đối với Việt Nam.
Kịch bản thứ nhất là một cuộc đột kích quân sự lớn bao gồm cả tấn công trực diện vào thủ đô Bắc Kinh. Kịch bản này khó có thể xảy ra, cùng lắm là một cuộc tấn công quy mô lên hàng loạt tỉnh phía bắc Trung Quốc, giống như chiến dịch Bắc Kinh đang tiến hành ở Việt Nam.
Thứ 2 là xúi giục các phần tử dân tộc thiểu số có vũ trang đang lưu vong ở Liên Xô quay về tấn công vào các tiền đồn Trung Quốc ở Tân Cương (Xinjiang) và Nội Mông (Inner Mongolia). Hoạt động này có thể sẽ gây bất ổn kéo dài đối với khu vực biên giới Trung Quốc.
Kịch bản này hoàn toàn có thể xảy ra nhưng trong trường hợp Bắc Kinh có ý định chiếm giữ lâu dài các khu vực mà quân đội nước này mới cướp đoạt được của Việt Nam, bởi nó không thể tiến hành ngay lập tức được.
Cuoc chien tranh 17-2-1979: Nguong can thiep quan su cua Lien Xo
Các trung đoàn máy bay chiến đấu Liên Xô cơ động từ lãnh thổ của Ukraine và Belarus đến sân bay của Mông Cổ năm 1979.
Phương án thứ 3 sử dụng hàng loạt cuộc giao tranh nhỏ gây ra sự căng thẳng dọc tuyến biên giới giữa hai nước, khiến Trung Quốc liên tục phải đối phó với tình hình căng thẳng trên toàn tuyến biên giới. Đây là phương án dễ xảy ra nhất bởi Liên Xô đã tập trung một lượng binh lực khổng lồ ở khu vực giáp biên.
Ngoài ra, cũng có thể là Liên Xô sẽ kết hợp tất cả các phương án này khiến Trung Quốc đứng trước những đòn tấn công quân sự rất nguy hiểm, không chỉ trong thời gian trước mắt mà cả lâu dài về sau.
Do đó, mặc dù cũng đã điều chuyển binh lực rất lớn lên biên giới Xô-Trung nhưng trước cuộc tập trận rầm rộ của quân đội Liên Xô, Bắc Kinh hiểu rằng, nếu mở rộng chiến tranh ở Việt Nam, rất có thể họ sẽ phải nhận một đòn tấn công phủ đầu tàn khốc.
Thấy được ý định nghiêm túc của quân đội Liên Xô trong bối cảnh chủ lực ta đã lên biên giới và hiểu rằng không thể giành chiến thắng nếu không leo thang chiến tranh, nhà cầm quyền Bắc Kinh tuyên bố đã đạt được mục đích “dạy cho Việt Nam một bài học” và rút quân vào ngày 5-3-1979.
Liên Xô có tấn công Trung Quốc hay không? Và đâu là “mức ngưỡng” can thiệp?
Vào giai đoạn đó, một câu hỏi rất lớn được giới học giả quốc tế đặt ra là thực sự Liên Xô có ý định can dự vào cuộc chiến tranh này hay không? Và nếu có thì đâu là mức “ngưỡng” của cuộc chiến tranh, mà Liên Xô sẽ buộc phải thực hiện đòn tấn công quân sự vào Trung Quốc?
Tờ thời báo “The Times” vào tháng 3-1979 đã dẫn phân tích của các chuyên gia nhận định, nếu quân đội Việt Nam đủ khả năng kháng cự và vẫn giữ vững mặt trận thì Liên Xô sẽ chỉ tiến hành cuộc chiến tranh trên mặt trận ngoại giao, tăng cường viện trợ cho Việt Nam và chuẩn bị tâm thế “sẵn sàng can thiệp”.
Trước hết phải nói rằng, đúng như nhận định của tờ báo Anh “The Times”, ý định bảo vệ Việt Nam của Liên Xô là hết sức nghiêm túc nhưng nếu cuộc chiến tranh xâm lược vẫn nằm trong phạm vi đối phó của Việt Nam thì Liên Xô sẽ không can thiệp quân sự.
Tớ báo này cho rằng, nếu nước láng giềng tiếp tục leo thang chiến tranh, tấn công xuống đồng bằng, ví dụ như uy hiếp Hà Nội và Hải Phòng, hoặc đồn trú lâu dài trên những vùng đất chiếm được, thì để thể hiện sự kiên quyết và sức mạnh trước toàn thế giới, giữ lời cam kết với đồng minh, Liên Xô sẽ tham gia giải quyết xung đột.
Tuy nhiên, đó chỉ là những vấn đề mang tính tình huống phát sinh trong chiến tranh, còn trên thực tế, có nhiều vấn đề ở trên tầm đại cục, có ảnh hưởng lớn hơn đối với cả Việt Nam và trên tầm thế giới mà chúng ta phải suy xét đến.
Thứ nhất: Mặc dù không có một tuyên bố chính thức nào đưa ra, nhưng vào thời điểm Trung Quốc nổ súng tấn công, Việt Nam sẽ không nhờ Liên Xô can thiệp quân sự, bởi trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, quân dân Việt Nam chưa bao giờ cầu viện bất cứ nước nào đánh đuổi giặc ngoại xâm.

Liên Xô luôn tin tưởng Việt Nam có thể đánh thắng quân đội Trung Quốc trong một cuộc chiến tranh thông thường
Truyền thống độc lập, tự cường là bản chất tốt đẹp, là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, đã giúp dân tộc ta tự đứng vững trước hàng ngàn năm xâm lược và âm mưu đồng hóa của các thế lực bành trướng phương Bắc và trong cả lịch sử hiện đại.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cũng đã có nhiều lời đề nghị cử quân sang giúp đỡ nhưng Việt Nam đều từ chối, mặc dù chúng ta phải liên tiếp tiến hành 2 cuộc chiến tranh khốc liệt với 2 đế quốc mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ là Pháp và Mỹ.
Không thể có độc lập, tự chủ đúng nghĩa của nó trên sự vay mượn máu của dân tộc khác. Tinh thần tự tôn của Việt Nam là một yếu tố quan trọng khiến Liên Xô không can thiệp quân sự, nếu cuộc chiến vẫn nằm trong phạm vi kiểm soát được.
Nói như thế không phải là Việt Nam không cần sự giúp đỡ của Liên Xô mà chúng ta nên hiểu với ý nghĩa rằng, hành động đó chỉ đến khi Việt Nam không còn khả năng chống trả được, khi Trung Quốc vượt quá xa phạm vi một cuộc chiến “phản kích tự vệ” mà họ tuyên bố.
Do đó, nếu Trung Quốc không sử dụng đến các vũ khí có khả năng răn đe hạt nhân như không quân ném bom và lực lượng Pháo binh 2 (tên lửa đạn đạo), hoặc lực lượng hải quân Mỹ-Trung phối hợp tấn công từ hướng biển thì Việt Nam sẽ tự mình chống trả quân xâm lược để giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Thứ 2: Vào thời điểm đó, nếu Trung Quốc không leo thang xâm lược đến cấp độ cao hơn thì Liên Xô cũng sẽ không can thiệp quân sự, bởi đó chỉ là sự lựa chọn bắt buộc cuối cùng, bởi dùng đến chiến tranh để giải quyết chiến tranh bao giờ cũng là một phương án tồi tệ nhất.
Thực tế chúng ta cũng thấy, ngược với bản chất hung hăng, hiếu chiến của chủ nghĩa bá quyền, các dân tộc yêu chuộng hòa bình sẽ chỉ tiến hành chiến tranh trong trường hợp không còn biện pháp nào khác, nhất là đối với các cường quốc, bởi những hành động quân sự của họ đều có ảnh hưởng rất lớn đến cục diện chính trị thế giới.
Mỗi một sự can thiệp quân sự của các cường quốc vào một khu vực nào đó trên thế giới cũng sẽ dẫn đến những biến động địa-chính trị rất lớn trên toàn cầu. bởi vậy, vào thời điểm năm 1979, sự can thiệp quân sự của Liên Xô cũng sẽ chỉ được đưa ra, nếu không còn biện pháp nào khác.
Hơn nữa, mặc dù rất đau lòng trước tình cảnh nước bạn lâm vào cảnh chiến tranh tàn phá và rất muốn giúp Việt Nam đánh quân xâm lược Trung Quốc, nhưng Liên Xô cũng rất tin tưởng vào khả năng của quân đội Việt Nam trong đối phó với một cuộc chiến tranh thông thường.
Nước bạn sẽ chỉ “ra tay” nếu cuộc chiến vượt tầm khả năng của Việt Nam, cần phải có những biện pháp quân sự mạnh mẽ để răn đe cái đầu nóng quá mức của quân xâm lược. Còn nếu không, Liên Xô sẽ dừng lại ở mức độ ủng hộ, viện trợ, cố vấn và sẵn sàng ra tay nếu cần thiết.
Do đó, kể cả trong trường hợp Bắc Kinh không rút quân sau tuyên bố ngày 5-3-1979 hoặc âm mưu đánh xuống đồng bằng thì Liên Xô cũng sẽ không can thiệp, bởi lúc đó chủ lực của ta đã bắt đầu tham chiến, khiến Trung Quốc hoàn toàn không có “cửa” thắng trong cuộc chiến tranh xâm lược này.
Cứ cho là Trung Quốc sẽ tấn công toàn diện, xâm lược Việt Nam bằng cách chiếm Hà Nội và mở rộng chiến tranh ra toàn quốc thì liệu Liên Xô có can thiệp bằng quân sự vào Trung Quốc hay không ? Câu trả lời là Không. Vì tấn công một quốc gia đông dân nhất thế giới, có thủ đắc vũ khí nguyên tử là một điều tự sát. Trong lịch sử Trung Quốc thì không một cường quốc nào tính chuyện chiếm đóng Trung Hoa rộng mênh mông cả. Như các cuộc chiến tranh Nha Phiến, chiến tranh với Nghĩa Hòa Đoàn, Liên Quân 8 nước...thì cuối cùng chỉ là những cuộc chiến cục bộ, nhỏ để đưa đến ký các hòa ước mà thôi. Tấn công và chiếm đóng Trung Quốc, nếu có thể thì cũng không cường quốc nào chọn chiếm đóng Trung Quốc vì lý do trên.
Bởi vậy, những luận điểm phê phán tính thực chất của Hiệp định hợp tác hữu nghị Việt-Xô chỉ là sự ngụy biện, nhằm li gián tình hữu nghị giữa 2 nước anh em, hoặc chưa hiểu hết về truyền thống tự cường của con người Việt Nam mới cho rằng, Liên Xô sẽ nổ súng ngay sau khi Trung Quốc xâm lược nước ta.
Tuy nhiên, về cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc năm 1979, rất nhiều bạn đã thắc mắc rằng, ngay từ đầu Bắc Kinh có ý định đánh xuống Hà Nội hay không? Hay ở miền Bắc lúc đó vẫn còn Quân đoàn 1, tại sao lại không tham chiến? Tại sao các lực lượng chủ lực của Việt Nam không tham chiến. Hoặc thắc mắc là vì sao Trung Quốc không huy động đến những lực lượng có tính răn đe mạnh như không quân hay tên lửa; còn Việt Nam cũng không dùng đến lực lượng không quân lúc đó đang rất mạnh?

Trong khuôn khổ chương trình diễn tập và vận chuyển khí tài chiến đấu trong không đầy một tháng đã tiến hành cơ động 20.000 quân nhân của lực lượng vũ trang Việt Nam, hơn 1.000 đơn vị (unit) trang thiết bị chiến đấu, 20 máy bay quân sự và máy bay trực thăng, hơn 3 nghìn tấn vũ khí trang bị, đạn và cơ sở vật chất phục vụ chiến tranh, được đưa từ miền Nam và Cămphuchia ra miền Bắc.
Liên bang Xô Viết đã thực hiện sứ mệnh cao cả của mình, bằng sự giúp đỡ của tinh thần đồng chí, tăng cường sức mạnh quân sự cho quân đội nhân dân Việt Nam bằng giải pháp cung cấp khí tài quân sự. Trong giai đoạn đầu tiên của cuộc xung đột vũ trang đến tháng 3 năm 1979 theo đường vận tải biển và hàng không đã chuyển đến Việt Nam hơn 400 xe tăng và xe thiết giáp, xe bộ binh cơ giới, 400 khẩu pháo và súng cối, 50 tổ hợp pháo phản lực Grad BM-21, hơn 100 khẩu pháo phòng không, 400 tổ hợp tên lửa phòng không vác vai và hàng nghìn tên lửa, 800 súng chống tăng RPG-7, 20 máy bay tiêm kích các loại.
(Theo Đất Việt)

Tây Berlin 1949 - Cuộc không vận vĩ đại nhất trong lịch sử...


Sau năm 1945, đánh thắng Phát xít, thỏa thuận tại Yalta và Potsdam đã khiến Thủ đô của Đức là Berlin trong tình thế chia cắt, Liên Xô chiếm đóng một nửa. Phần đất của Anh, Pháp, Mỹ tại Tây Berlin bị bao quanh bởi sự đồn trú của Liên Xô.
 Máy bay vận tải C-54 chuẩn bị hạ cánh xuống sân bay của Tây Đức.
Máy bay vận tải C-54 chuẩn bị hạ cánh trước sự chờ đón của người dân Tây Đức.

Người Nga chỉ cho phép hạn chế một vài tuyến đường sắt và ôtô tiếp cận Berlin. Ngoài mở cho 3 hành lang bay rộng 32 km, hướng tây tới vùng chiếm đóng của Anh, Pháp, Mỹ.
Mọi hướng vào và ra Berlin là các trạm kiểm soát của Liên Xô. Máy bay ký hiệu Sao Đỏ của Liên Xô tuần tiễu liên tục, sát hành lang bay cho phép. Đầu năm 1948, tình thế vận chuyển cho phần Berlin nhỏ nhoi trở nên khắc nghiệt hơn.
Liên Xô phản đối những cải cách được phương Tây hậu thuẫn ở đây. Liên Xô tuyên bố giao thông đường sắt và đường bộ sẽ bị lính gác kiểm tra chặt chẽ hơn.
Các nước Phương Tây không chấp nhận, dừng giao thông trên bộ, trừ việc chuyên chở thực phẩm. Phần Tây Berlin thực phẩm, nhiên liệu phụ thuộc hoàn toàn vào bên ngoài.
Trước mối đe dọa của bao vây, Anh, Pháp, Mỹ quyết định tiếp tục đẩy nhanh những cải cách theo lối sống Mỹ. Đồng Mark mới được lưu hành, với giá trị bằng 10 đồng tiền cũ.
Liên Xô phản ứng tức thì, cấm lưu hành đồng tiền mới trong khu vực của họ. Đồng thời ra lệnh dừng tất cả những chuyến xe lửa và ôtô chở khách từ Berlin sang phía Tây từ đêm 18/06/1948. Khi đó, xe lửa chở thực phẩm vẫn được chạy từ Helmstedt đến Berlin.
It ngày sau, Liên Xô tiếp tục thông báo có những “trục trặc kỹ thuật”, đường sắt cần được sửa chữa. Để bảo đảm hoạt động, cần phá dỡ gần 100 mét đường ray để “bảo trì”!!!
Khắc khoải từ Berlin
Lúc này Phương Tây chỉ có 2 lựa chọn. Một đứng yên đồng nghĩa Berlin chết đói. Hai di tản đồng nghĩa phần nhỏ nhoi ấy bỏ mặc Berlin cho Liên Xô. Nhưng phương Tây cũng nhìn ra điều sẽ đến nếu họ xuôi tay. Họ kiên quyết ở lại Berlin với bất cứ giá nào.
Có khoảng 2,5 triệu người Berlin (tính trong khu vực của phương Tây kiểm soát). Qua tính toán, cần 4.500 tấn thực phẩm và nhu yếu phẩm để tồn tại. Thời điểm đó chỉ còn một cách duy nhất dùng đường không, qua 3 tuyến hành lang trên.
Đó là một thử thách cực lớn. Bộ Tư lệnh Không quân Châu Âu (USAFE command) của tướng LeMay. LeMay có thể đáp ứng yêu cầu đó?
Khi đó tướng LeMay có 102 chiếc máy bay vận tải C-47, và 2 C-54. Mỗi chiếc C-47 chở 3 tấn hàng, còn C-54 là 10 tấn. Tức là nhu cầu mỗi ngày của Berlin tương đương 1.500 chuyến bay của C-47.
Có một sân bay của Mỹ ở Templehof, một của Anh ở Gatow. Không lực Hoàng gia Anh RAF có một số C-47, nhưng cộng cả máy bay với USAF thì vẫn còn xa nhu cầu.
Hơn 200.000 lần chiếc máy bay không vận
Lúc này, không lực Mỹ (USAF) bắt đầu tăng cường 2 liên đội B-29 thuộc đội ném bom 301, cùng một liên đội có sẵn ở Furstenfeldbruck, gần Munich, Họ triển khai thêm khoảng 2 đội B-29, 60 chiếc, đến sân bay Gatow của Anh.
USAF cũng công bố sẽ triển khai một phi đoàn chiến đấu cơ F-80 sang Đức với 16 chiếc từ Michigan, tới Furstenfeldbruck.
Tới lúc đó cầu không vận đã vượt ngưỡng vận chuyển 1.000 tấn một ngày. Chiến dịch được chuyển từ tay LeMay sang Lực lượng Không vận quân sự MATS. Đội đặc nhiệm thiết lập cầu không vận được hình thành.
MATS nhanh chóng triển khai 8 liên đội hàng không C-54 Skymaster với 72 máy bay tới Đức. Hiệu quả của cầu hàng không bắt thay đổi rõ rệt.
Lúc này Thiếu tướng William H.Tunner nhanh chóng bay đến Đức để nhận sự bàn giao từ LeMay. H.Tunner sau này thuật lại tình hình lúc đó “… Thật sự là một chiến dịch kiểu trại bò.”.
Phi hành đoàn và đội mặt đất không được lên kế hoạch kỹ, C-47 trong tình trạng kém. Hiệu quả thấp, thời gian bảo trì thấp, tuyến bay rất hạn chế.
Có tới 7 sân bay Liên Xô bao quanh Tây Berlin, trong khi phi trường Templehof và Gatow chỉ cách nhau 4 phút bay. Không có chỗ để “câu giờ trên không” trong không vực chờ hạ cánh trên đầu mỗi sân bay.
Thậm chí Templehf không có đường băng, sau này USAF lát thêm những tấm thép dã chiến. Người Đức trước đây cất cánh trên sân cỏ.
Huy động phi cơ C-54 từ khắp nơi trên thế giới
Căn cứ của Anh RAF ở Fassberg cách Tây Berlin 260 km. Con từ khu vực của Mỹ tới Templehof xa 470km. Tunner đề nghị một chiến dịch liên hợp với người Anh. Máy bay Mỹ được chuyển đến Fassberg để gần hơn về cự ly.
Điểm mấu chốt, Tunner nhận ra rằng, sử dụng một số lượng ít máy bay to, tăng tần suất bay, sẽ hiệu quả hơn. Bay nhiều, chở ít một, sẽ là cực hình đối với động cơ và lốp, hiệu suất thấp.
Lúc này máy bay C-47 được cấp tốc thay bằng máy bay C-54. Có thêm 275 chiếc máy bay 4 động cơ C-54 từ các căn cứ khắp nơi trên Thế giới tập trung về chiến dịch không vận này.
 Máy bay vận tải C-47 rất tích cực tham gia vào chiến dịch không vận.
Từng đoàn máy bay vận tải C-47 tham gia vào chiến dịch không vận.
Số lượng máy bay C-54 liên tục bảo đảm vận chuyển với tần suất 225 chiếc hoạt động và 75 chiếc “cuốn chiếu” bảo dưỡng. Trong đó Anh có khoảng 100 chiếc đủ loại, luôn “làm được nhiều hơn những gì người ta yêu cầu”.
Hải quân Mỹ cũng gởi 24 chiếc R5D, loại tương đương với C-54 để tham gia cầu không vận đến phút cuối. Máy bay C-74 cũng tham gia lập chuyến bay kỷ lục, 5 chiếc C-82 dùng để vận chuyển những xe chuyên dùng lớn “siêu trường, siêu trọng”.
Người Anh chở hàng cho Berlin bằng thủy phi cơ Short Sunderland. Nó được thiết kế cho những chiến dịch ngoài đại dương, có khả năng chống ăn mòn tuyệt vời.
Người ta khó hình dung ra, máy bay chở cả các bao than xuống cho Beclin, thứ mà trừ trước đến nay máy bay không bao giờ chở nó.
Điều hành không vận rất chặt chẽ, điều hòa, an toàn, hiệu quả
Tướng William H.Tunner xiết việc tổ chức điều hành không vận rất chặt chẽ. Những chiếc C-54 chất đầy hàng tiếp tế cho Berlin. Những chuyến bay về phía đông mang mật mã “Easy”, những chuyến về phía tây mang mã “Willie”.
Những C-54 sẽ là “Big Easy” hoặc “Big Willie”. Hàng tiếp tế, nếu là dân sự, sẽ mang mã “New York”. Nếu là hàng quân sự của Mỹ sẽ là “Chicago”, đối với Pháp sẽ là “Paris”. Nếu hàng hoá dùng cho bảo trì đường băng hoặc xây dựng công trình sẽ mang mã “Engineer”.
Một phi hành đoàn của Big Easy với New York (máy bay loại lớn, bay về phía đông, chở hàng dân sự) sẽ được phát một lịch trình bay cụ thể, chính xác tới từng giây.
Mỗi C-54 có một bảng điều khiển chuẩn hoá. Một phi đội chuẩn gồm 3 người Cơ trưởng , phi công phụ , kỹ sư máy. Họ phải thực hiện quy trình rất ngặt ngèo.
Quy trình khởi hành, từ căn cứ chính , bay qua hành lang, tiếp cận và đáp xuống Templehf hoặc Gatow, không có chỗ cho sai lầm.
Những số liệu về độ cao tối thiểu ở Templehof là 120m, tầm nhìn 1,6 km. Còn ở Gatow là 60m và 0,8 km. Sự chênh lệch là do xung quanh Templehof có nhiều nhà cao tầng.
Trong hành lang bay, máy bay duy trì một hướng bay và tốc độ cố định. Và mỗi chiếc giữ một khoảng (mực bay) về độ cao là 500ft (150 m) so với chiếc dẫn đầu trong nhóm 3 chiếc.
Máy bay được xuất phát cách nhau 180 giây (3 phút). Do đó đường băng ở Templehof và Gatow được phép sử dụng mỗi 90 giây cho những chuyến cất cánh và hạ cánh xen kẽ.
Phi công tham gia cầu không vận biết tần số radio và số hiệu đuôi của 3 máy bay trước và 2 chiếc sau họ.
Cứ 7 chiếc đến Berlin một lần họ được phát một bản tường trình về tần suất bay, một bản tin thời tiết được cập nhật mỗi 30 phút.
Sau khi cất cánh, phi công sẽ tăng độ cao với tốc độ 150m/phút và bắt đầu vào hành lang bay duy nhất được phép.
Phi công sẽ bay qua Dramstadt, Aschaffenberg, rồi rẽ ngoặt tới Fulda, điểm kiểm soát cuối cùng trong khu vực của Mỹ.
Trên vùng trời Fulda, mỗi máy bay sẽ phát sóng báo số hiệu máy bay của mình, để những máy bay khác có thể kiểm tra vị trí và khoảng cách của họ. Từ Fulda, hành lang bay sẽ dẫn họ thẳng đến Templehof, máy bay sẽ bay với tốc độ thật chính xác là 170dặm/h.
Tới đó, họ sẽ rẽ trái để tới cột mốc (điểm kiểm tra) Wedding, bắt đầu quy trình hạ cánh. Ở Wedding, máy bay hạ xuống theo hướng gió, tới cao độ còn 460m vào chặng hạ cánh cuối cùng.
Sau khi hạ cánh xuống Templehof, một sĩ quan tác chiến sẽ đưa họ giấy phép quay về và bản chỉ thị thời tiết. Một chiếc xe jeep sẽ phân phát cà phê, bánh rán và snack cho phi công, trong khi chờ bốc dỡ hàng nhanh.
Thời gian quay vòng giữa 2 chuyến bay chỉ khoảng 30 phút, nhờ bảo đảm cho phi công ăn uống tại chỗ và giải phóng “tàu” nhanh. Việc điều hành bay khá tốt, điều hòa, an toàn, hiệu quả.
Trên thực tế, đã không xảy ra sự ùn tắc do bay sai quy trình, lộn xộn, thời tiết xấu, có rất ít chuyến hạ cánh bị hủy, ngay cả trong thời tiết xấu nhất.
Sức ép lớn về bảo đảm kỹ thuật máy bay
Động cơ và lốp máy bay thực sự là sức ép. C-54 được thiết kế để bay đường dài. Nhưng ở đây, những chiếc C-54 của MATS liên tục phải cất cánh với tổng trọng lượng 33 tấn (tải trọng cao nhất), tần suất lên xuống cao, quay vòng nhanh.
Với một tỷ lệ số lần hạ cánh trên số giờ bay cao hơn hẳn bình thường (vì quãng đường ngắn), trong khi đường băng dã chiến gồ ghề, lốp máy bay xuống cấp nhanh chóng dẫn đến sự hao mòn lốp tăng theo. Không lực Mỹ phải cho chở lốp dự phòng qua thường xuyên.
Mỗi chiếc C-54 bay trung bình đến 8,5 giờ mỗi ngày. Nó thật sự cần được duy tu thường xuyên, từ hệ thống điện, điều hoà trong cabin, thủy lực cho tới thay lốp, động cơ dự phòng.
Sau khi bay 200 giờ, mỗi C-54 sẽ tới kho của USAF ở Burtonwood, Anh, để kiểm tra. Sau 4 lần kiểm tra , nó sẽ quay về Mỹ, trải qua 44 ngày đại tu chính rồi quay lại Đức. Họ đã không có đủ người để thay 90 động cơ một tháng, 23 chiếc lốp mỗi ngày.
Tướng Tunner cho phép tái tuyển mộ những cựu thợ máy người Đức vào làm việc ở Templehof. Nhờ dịch các bản hướng dẫn kỹ thuật ra tiếng Đức, đến cuối chiến dịch, số kỹ thuật viên Đức vượt số đồng nghiệp Mỹ.
Kết
Theo trang history.com, cầu hàng không liên tục mở rộng về quy mô. Người Pháp cũng tham gia chiến dịch, mặc dù họ không có máy bay. Nhưng họ có một sân bay khác ở Berlin là Tegel được đưa vào sử dụng.
Lúc này, một đài radio của người Nga gây nhiễu các thiết bị uy hiếp việc cất và hạ cánh tại Tegel. Người Anh và Mỹ đàm phán với Liên Xô để tháo dỡ nó, nhưng thất bại. Nhưng rồi có một tiếng nổ lớn bất thần vào buổi tối. Ai đó đã phá đài phát sóng này. Nga im lặng!
Tây Berlin không bị chết đói. Quân lực được tăng cường. Khẩu phần ăn được tăng lên từng ngày. Người Tây Berlin có than cho mùa đông. Cuộc đại không vận, tiếp tế hàng hóa cho Tây Berlin 1948 - 1949 đã thành công một cách vô tiền khoáng hậu.
Tới ngày 9-5-1949, Liên Xô tuyên bố vòng phong toả dỡ bỏ. Cầu không vận vẫn tiếp tục, để tăng cường thêm cho đường bộ, cũng như đề phòng. Nhưng, dần dà quy mô không vận cũng giảm và chấm dứt hẳn vào tháng 9-1949.
Dễ hiểu, đến thời điểm Liên Xô chấm dứt sự phong tỏa, Tây Đức đã nằm trong một quốc gia độc lập, Cộng hòa Liên bang Đức.
Như thế cùng với những máy bay của USAF, RAF cùng với khoảng 40 máy bay tư nhân thuê bao của Anh đã chở trung bình 1 tấn hàng cho một người Berlin. Hơn 200.000 lần chiếc máy bay đã tham gia cuộc không vận lớn nhất mọi thời đại này.
Trừ một khoảng thời gian là 15 giờ, cộng vài ngày trong tháng sương mù dày đặc, còn lại cầu hàng không đã hoạt động suốt ngày đêm không nghỉ, 7 ngày trong tuần.
Mục tiêu ban đầu là trung bình 4.500 tấn hàng quân sự, dân sự một ngày họ đã bỏ xa, đạt mức 5.620 tấn cuối năm 1948.
Tháng 4-1949, người ta lập một kỷ lục về chuyên chở trong một ngày 13.000 tấn hàng, được chuyển bởi 1.389 chuyến bay với câu khẩu hiệu – slogan là “Cuộc diễu hành Lễ phục sinh”.
Tổng thể, từ 26/06/1948 đến 30/09/1949, khoảng 14 tháng liên tục, đã có 2.325.000 tấn hàng được chuyển bằng không vận. Trong đó 1.783.000 được chuyển bởi USAF.
Sau này, người ta thấy Mỹ, Nga, Anh, Pháp có rất nhiều đợt không vận lớn, đường xa, dồn dập, nhưng đây được coi là chiến dịch không vận lớn nhất thế kỷ 20. Theo trang Britannica.com “tổng chi phí” cho chiến dịch không vận này là 224 triệu USD!
Đây có thể nói là chiến dịch tiếp tế bằng đường hàng không lớn nhất trong lịch sử nhân loại, và với các máy bay thời đó thì đem được hàng triệu tấn hàng hóa đến cho người dân Tây Berlin bị phong tỏa đã là một thành công không tưởng tượng nổi. Và đây mới chỉ là chiến dịch không vận lần thứ hai trên thế giới. Trước đó, vào năm 1942- 1943 người Đức Quốc Xã đã lần đầu tiên mở chiến dịch không vận, tiếp tế cho đạo quân thứ 6 của thống chế Paolus bị bao vây ở Stalingrat. 
(Theo Soha News)