Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

6/7/16

Cuộc tập trận lớn nhất và khả năng can thiệp quân sự của Liên Xô 1979


Trong cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc vào Việt Nam năm 1979, Liên Xô không tấn công quân sự vào Trung Quốc. Cuộc tập trận lớn nhất lịch sử quân sự và liệu Liên Xô có tấn công quân sự vào Trung Quốc không ?


Cuoc chien tranh 17-2-1979: Nguong can thiep quan su cua Lien Xo - Anh 1
Cuộc tập trận của Liên Xô “Phương Tây 81”, năm 1981)

Điều đó giải thích ra sao?
Trước cuộc tấn công của Trung Quốc vào toàn tuyến biên giới phía bắc Việt Nam, Liên Xô cảnh cáo “Liên bang Xô Viết sẽ thực hiện những điều khoản đã ký kết Trong Hiệp định hợp tác, đoàn kết hữu nghị và tương trợ lẫn nhau (trong cả lĩnh vực quân sự) đã được ký với Việt Nam”. Trong đó có ghi sẽ sử dụng mọi biện pháp, có cả quân sự để giúp Việt Nam trong trường hợp Việt Nam bị một nước thứ ba xâm chiếm.
Để biểu thị sự ủng hộ đối với Việt Nam và răn đe Trung Quốc, một cuộc biểu dương lực lượng khổng lồ dưới dạng một cuộc tập trận Hiệp đồng quân binh chủng lớn nhất trong lịch sử, đã được Liên Xô tổ chức vào đầu tháng 3-1979.
Cuộc động binh lớn nhất trong lịch sử nước Nga và lịch sử thế giới
Bình luận về cuộc tập trận này, chuyên gia Aleksei Lensov cho biết, đó là cuộc biểu dương lực lượng mạnh mẽ nhất ở phía nam Liên Xô (tức phía Bắc Trung Quốc) trong vòng hơn hai trăm năm, với lực lượng được huy động lên đến 600.000 người, thuộc 6 quân khu của Liên Xô.
Trong giai đoạn từ ngày 12 đến 26-3, với mục đích tạo áp lực quân sự lên Trung Quốc, theo quyết định của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô, quân đội nước này đã tiến hành cuộc diễn tập hiệp đồng quân binh chủng và diễn tập hải quân có sử dụng đạn thật.
Cuộc tập trận được triển khai trên tất cả các quân khu vùng biên giới phía Đông, trên lãnh thổ Mông Cổ và trên biển Thái Bình Dương, huy động lực lượng của 29 sư đoàn bộ binh cơ giới, với số quân lên đến 250.000 quân nhân, 2.600 xe tăng, 900 máy bay và 80 chiến hạm.
Cuộc diễn tập bắt đầu bằng lệnh động viên và chuyển các đơn vị vào tình trạng sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Quân đội Liên Xô đã động viên 52.000 quân nhân dự bị, huy động hơn 5.000 xe máy của nông nghiệp sang phục vụ yêu cầu sẵn sàng chiến đấu.
Các trung đoàn máy bay chiến đấu từ lãnh thổ của Ukraine và Belarus cũng được điều chuyển đến miền đông Liên Xô, trong đó có một sư đoàn được triển khai ở Mông Cổ, trên một sân bay trọng yếu, chỉ cách Bắc Kinh 1,5 giờ bay.
Các cuộc chuyển quân trên của Không quân Xô Viết bao gồm toàn bộ đội hình máy bay chiến đấu, với các phi công được huấn luyện tốt nhất, cùng với tất cả các đơn vị và phân đội bảo dưỡng kỹ thuật trên không và mặt đất.
Trong tiến trình diễn tập, có những khoảng thời gian trong không trung có tới 10 trung đoàn không quân tuyến 1 (đội hình chiến đấu) hoạt động. Các kíp bay đã bay tổng cộng 5.000 giờ, đã sử dụng tới 1.000 quả bom và tên lửa trong diễn tập bắn đạn thật.
Những đợt diễn tập lớn nhất được thực hiện tại Mông Cổ, với sự tham gia của 6 sư đoàn Bộ binh cơ giới và tăng-thiết giáp, 3 trong số các đơn vị được điều động từ Siberia và Zabaikalia.
Ngoài ra, trên lãnh thổ Mông Cổ tham gia diễn tập có 3 sư đoàn không quân chiến trường, 2 lữ đoàn không quân độc lập, các đơn vị và phân đội đặc chủng tăng cường.
Cũng trong giai đoạn đó, Liên Xô cũng đồng thời tiến hành các hoạt động diễn tập thực binh của các lực lượng trên vùng Viễn Đông và Đông Kazakhstan (giáp giới Trung Quốc), với các đơn vị binh chủng hợp thành cấp sư đoàn trở lên và các đơn vị không quân, phối hợp với lực lượng Biên phòng.
Tại các vùng có đường biên giới với Trung Quốc, lực lượng Xô Viết đã diễn tập các phương án tổ chức phòng ngự, đánh trả đội hình tiến công của đối phương, phản kích và chuyển sang phản công. Các đơn vị tên lửa chiến thuật cũng được đặt trong trạng thái báo động chiến đấu.
Cuoc chien tranh 17-2-1979: Nguong can thiep quan su cua Lien Xo - Anh 2
Một phân đội xe tăng Liên Xô tham gia tập trận năm 1979.
Ngoài ra, tại biển Đông và biển Hoa Đông, gần 50 chiến hạm của Hạm đội Thái Bình Dương, trong số đó có 6 tàu ngầm đã trực chiến sẵn sàng chiến đấu và tiến hành tập trận tiêu diệt hải quân đối phương. Tại vùng Primorie (ven biển Viễn Đông) đã diễn ra các cuộc đổ bộ của hải quân đánh bộ Liên Xô.
Những ý đồ tác chiến thật sự nghiêm túc được ông Eugene, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 8 – Trung đoàn 390, thuộc sư đoàn hải quân đánh bộ số 55 miêu tả lại: Vào tháng 2-1979, trung đoàn đã được đặt trong trạng thái có chiến tranh.
Cả đội hình sư đoàn đã thực hiện nhiệm vụ diễn tập chiến thuật trên biên giới với Trung Quốc trong đó có nội dung đổ bộ lên đất liền từ hướng biển, tiến hành các cuộc diễn tập đổ bộ tấn công cấp tiểu đoàn, có sử dụng đạn thật.
Để phục vụ cuộc tập trận này, Liên Xô đã huy động một khối lượng bảo đảm khổng lồ. Chỉ tính lượng dầu tiêu hao trong thời gian thực hiện các hoạt động diễn tập và giúp đỡ Việt nam, Bộ quốc phòng Liên Xô lúc đó đã phải phục hồi lại dự trữ trong vòng hai năm.
Liên Xô sẵn sàng can thiệp quân sự
Trong hồi ký của các cựu quân nhân Liên Xô cho biết, Liên Xô hoàn toàn có khả năng sẽ can thiệp quân sự khi cần thiết và khi đó Trung Quốc đã được cảnh báo trước một điều đã rõ ràng, nếu quân đội của họ không rút khỏi Việt Nam, họ sẽ phải chiến đấu trên hai mặt trận.
Trong trường hợp này, những hành động quân sự nào Liên Xô sẽ thực hiện trong thời điểm ban đầu? Giới chuyên gia quân sự cho rằng, có quá nhiều sự lựa chọn hiệu quả đối với Liên Xô trong các hành động tấn công.
Viễn cảnh đáng lo ngại nhất là những hành động quân sự mà Liên Xô có thể triển khai trên chiều dài 4.500 km đường biên giới Xô – Trung, nơi có 44 sư đoàn sẵn sàng chiến đấu đang đóng quân.
Quân đội Liên Xô với các phương tiện đổ bộ tầm xa hoặc đổ bộ đường không có thể nhanh chóng đổ quân xuống vùng đồng bằng tuyết phủ của Tân Cương, có khả năng tấn công vào khu vực Mãn Châu – trung tâm công nghiệp nặng của Trung Quốc.
Trường hợp xấu nhất là kịch bản “ngày tận thế”, theo cách gọi của các chuyên gia. Đó là đòn tấn công nhằm vào các cơ sở hạt nhân của Trung Quốc ở vùng hồ muối Lop Nor (hay còn gọi là La Bố Bạc) – nằm giữa sa mạc Taklamakan và sa mạc Kuruktag, thuộc phía Đông khu tự trị Duy Ngô Nhĩ – Tân Cương.
Mục tiêu này dường như thích hợp hơn cả trong sự đánh giá của quân đội Liên Xô bởi sự hủy diệt lớn, sức mạnh răn đe cao, tấn công phủ đầu trong tầm với của nhiều loại tên lửa Liên Xô.
Cuoc chien tranh 17-2-1979: Nguong can thiep quan su cua Lien Xo
Vùng hồ muối Lop Nor (hay còn gọi là La Bố Bạc) – vùng tập trung các cơ sở hạt nhân của Trung Quốc
Khi đó, Bộ Chính Trị Trung Quốc cũng đứng trước rất nhiều câu hỏi sinh tử:
Một là, liệu Liên Xô có phản ứng bằng cách tấn công từ phía bắc khiến quân đội Trung Quốc phải chiến đấu trên hai mặt trận?
Hai là liệu Liên Xô có nhân cơ hội để trục lợi từ tình hình căng thẳng Việt Nam-Trung Quốc hay không? Và phản ứng của thế giới, đặc biệt là của Mỹ trước sự gia tăng căng thẳng Trung-Xô sẽ ra sao?
Ba là, liệu leo thang chiến tranh với Việt Nam, dẫn đến sự can thiệp của Liên Xô sẽ gây những khó khăn thế nào đến chương trình hiện đại hóa nền kinh tế trong chiến lược “Cải cách mở cửa” của nước này?
Trong đó, mối lo lắng lớn nhất của nhà cầm quyền Bắc Kinh là phản ứng quân sự khó lường của Liên Xô.
Theo các phân tích tình báo của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Moscow có thể sẽ đưa ra 3 phương án quân sự nhằm đáp trả cuộc xâm lăng của Trung Quốc đối với Việt Nam.
Kịch bản thứ nhất là một cuộc đột kích quân sự lớn bao gồm cả tấn công trực diện vào thủ đô Bắc Kinh. Kịch bản này khó có thể xảy ra, cùng lắm là một cuộc tấn công quy mô lên hàng loạt tỉnh phía bắc Trung Quốc, giống như chiến dịch Bắc Kinh đang tiến hành ở Việt Nam.
Thứ 2 là xúi giục các phần tử dân tộc thiểu số có vũ trang đang lưu vong ở Liên Xô quay về tấn công vào các tiền đồn Trung Quốc ở Tân Cương (Xinjiang) và Nội Mông (Inner Mongolia). Hoạt động này có thể sẽ gây bất ổn kéo dài đối với khu vực biên giới Trung Quốc.
Kịch bản này hoàn toàn có thể xảy ra nhưng trong trường hợp Bắc Kinh có ý định chiếm giữ lâu dài các khu vực mà quân đội nước này mới cướp đoạt được của Việt Nam, bởi nó không thể tiến hành ngay lập tức được.
Cuoc chien tranh 17-2-1979: Nguong can thiep quan su cua Lien Xo
Các trung đoàn máy bay chiến đấu Liên Xô cơ động từ lãnh thổ của Ukraine và Belarus đến sân bay của Mông Cổ năm 1979.
Phương án thứ 3 sử dụng hàng loạt cuộc giao tranh nhỏ gây ra sự căng thẳng dọc tuyến biên giới giữa hai nước, khiến Trung Quốc liên tục phải đối phó với tình hình căng thẳng trên toàn tuyến biên giới. Đây là phương án dễ xảy ra nhất bởi Liên Xô đã tập trung một lượng binh lực khổng lồ ở khu vực giáp biên.
Ngoài ra, cũng có thể là Liên Xô sẽ kết hợp tất cả các phương án này khiến Trung Quốc đứng trước những đòn tấn công quân sự rất nguy hiểm, không chỉ trong thời gian trước mắt mà cả lâu dài về sau.
Do đó, mặc dù cũng đã điều chuyển binh lực rất lớn lên biên giới Xô-Trung nhưng trước cuộc tập trận rầm rộ của quân đội Liên Xô, Bắc Kinh hiểu rằng, nếu mở rộng chiến tranh ở Việt Nam, rất có thể họ sẽ phải nhận một đòn tấn công phủ đầu tàn khốc.
Thấy được ý định nghiêm túc của quân đội Liên Xô trong bối cảnh chủ lực ta đã lên biên giới và hiểu rằng không thể giành chiến thắng nếu không leo thang chiến tranh, nhà cầm quyền Bắc Kinh tuyên bố đã đạt được mục đích “dạy cho Việt Nam một bài học” và rút quân vào ngày 5-3-1979.
Liên Xô có tấn công Trung Quốc hay không? Và đâu là “mức ngưỡng” can thiệp?
Vào giai đoạn đó, một câu hỏi rất lớn được giới học giả quốc tế đặt ra là thực sự Liên Xô có ý định can dự vào cuộc chiến tranh này hay không? Và nếu có thì đâu là mức “ngưỡng” của cuộc chiến tranh, mà Liên Xô sẽ buộc phải thực hiện đòn tấn công quân sự vào Trung Quốc?
Tờ thời báo “The Times” vào tháng 3-1979 đã dẫn phân tích của các chuyên gia nhận định, nếu quân đội Việt Nam đủ khả năng kháng cự và vẫn giữ vững mặt trận thì Liên Xô sẽ chỉ tiến hành cuộc chiến tranh trên mặt trận ngoại giao, tăng cường viện trợ cho Việt Nam và chuẩn bị tâm thế “sẵn sàng can thiệp”.
Trước hết phải nói rằng, đúng như nhận định của tờ báo Anh “The Times”, ý định bảo vệ Việt Nam của Liên Xô là hết sức nghiêm túc nhưng nếu cuộc chiến tranh xâm lược vẫn nằm trong phạm vi đối phó của Việt Nam thì Liên Xô sẽ không can thiệp quân sự.
Tớ báo này cho rằng, nếu nước láng giềng tiếp tục leo thang chiến tranh, tấn công xuống đồng bằng, ví dụ như uy hiếp Hà Nội và Hải Phòng, hoặc đồn trú lâu dài trên những vùng đất chiếm được, thì để thể hiện sự kiên quyết và sức mạnh trước toàn thế giới, giữ lời cam kết với đồng minh, Liên Xô sẽ tham gia giải quyết xung đột.
Tuy nhiên, đó chỉ là những vấn đề mang tính tình huống phát sinh trong chiến tranh, còn trên thực tế, có nhiều vấn đề ở trên tầm đại cục, có ảnh hưởng lớn hơn đối với cả Việt Nam và trên tầm thế giới mà chúng ta phải suy xét đến.
Thứ nhất: Mặc dù không có một tuyên bố chính thức nào đưa ra, nhưng vào thời điểm Trung Quốc nổ súng tấn công, Việt Nam sẽ không nhờ Liên Xô can thiệp quân sự, bởi trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, quân dân Việt Nam chưa bao giờ cầu viện bất cứ nước nào đánh đuổi giặc ngoại xâm.

Liên Xô luôn tin tưởng Việt Nam có thể đánh thắng quân đội Trung Quốc trong một cuộc chiến tranh thông thường
Truyền thống độc lập, tự cường là bản chất tốt đẹp, là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, đã giúp dân tộc ta tự đứng vững trước hàng ngàn năm xâm lược và âm mưu đồng hóa của các thế lực bành trướng phương Bắc và trong cả lịch sử hiện đại.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cũng đã có nhiều lời đề nghị cử quân sang giúp đỡ nhưng Việt Nam đều từ chối, mặc dù chúng ta phải liên tiếp tiến hành 2 cuộc chiến tranh khốc liệt với 2 đế quốc mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ là Pháp và Mỹ.
Không thể có độc lập, tự chủ đúng nghĩa của nó trên sự vay mượn máu của dân tộc khác. Tinh thần tự tôn của Việt Nam là một yếu tố quan trọng khiến Liên Xô không can thiệp quân sự, nếu cuộc chiến vẫn nằm trong phạm vi kiểm soát được.
Nói như thế không phải là Việt Nam không cần sự giúp đỡ của Liên Xô mà chúng ta nên hiểu với ý nghĩa rằng, hành động đó chỉ đến khi Việt Nam không còn khả năng chống trả được, khi Trung Quốc vượt quá xa phạm vi một cuộc chiến “phản kích tự vệ” mà họ tuyên bố.
Do đó, nếu Trung Quốc không sử dụng đến các vũ khí có khả năng răn đe hạt nhân như không quân ném bom và lực lượng Pháo binh 2 (tên lửa đạn đạo), hoặc lực lượng hải quân Mỹ-Trung phối hợp tấn công từ hướng biển thì Việt Nam sẽ tự mình chống trả quân xâm lược để giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Thứ 2: Vào thời điểm đó, nếu Trung Quốc không leo thang xâm lược đến cấp độ cao hơn thì Liên Xô cũng sẽ không can thiệp quân sự, bởi đó chỉ là sự lựa chọn bắt buộc cuối cùng, bởi dùng đến chiến tranh để giải quyết chiến tranh bao giờ cũng là một phương án tồi tệ nhất.
Thực tế chúng ta cũng thấy, ngược với bản chất hung hăng, hiếu chiến của chủ nghĩa bá quyền, các dân tộc yêu chuộng hòa bình sẽ chỉ tiến hành chiến tranh trong trường hợp không còn biện pháp nào khác, nhất là đối với các cường quốc, bởi những hành động quân sự của họ đều có ảnh hưởng rất lớn đến cục diện chính trị thế giới.
Mỗi một sự can thiệp quân sự của các cường quốc vào một khu vực nào đó trên thế giới cũng sẽ dẫn đến những biến động địa-chính trị rất lớn trên toàn cầu. bởi vậy, vào thời điểm năm 1979, sự can thiệp quân sự của Liên Xô cũng sẽ chỉ được đưa ra, nếu không còn biện pháp nào khác.
Hơn nữa, mặc dù rất đau lòng trước tình cảnh nước bạn lâm vào cảnh chiến tranh tàn phá và rất muốn giúp Việt Nam đánh quân xâm lược Trung Quốc, nhưng Liên Xô cũng rất tin tưởng vào khả năng của quân đội Việt Nam trong đối phó với một cuộc chiến tranh thông thường.
Nước bạn sẽ chỉ “ra tay” nếu cuộc chiến vượt tầm khả năng của Việt Nam, cần phải có những biện pháp quân sự mạnh mẽ để răn đe cái đầu nóng quá mức của quân xâm lược. Còn nếu không, Liên Xô sẽ dừng lại ở mức độ ủng hộ, viện trợ, cố vấn và sẵn sàng ra tay nếu cần thiết.
Do đó, kể cả trong trường hợp Bắc Kinh không rút quân sau tuyên bố ngày 5-3-1979 hoặc âm mưu đánh xuống đồng bằng thì Liên Xô cũng sẽ không can thiệp, bởi lúc đó chủ lực của ta đã bắt đầu tham chiến, khiến Trung Quốc hoàn toàn không có “cửa” thắng trong cuộc chiến tranh xâm lược này.
Cứ cho là Trung Quốc sẽ tấn công toàn diện, xâm lược Việt Nam bằng cách chiếm Hà Nội và mở rộng chiến tranh ra toàn quốc thì liệu Liên Xô có can thiệp bằng quân sự vào Trung Quốc hay không ? Câu trả lời là Không. Vì tấn công một quốc gia đông dân nhất thế giới, có thủ đắc vũ khí nguyên tử là một điều tự sát. Trong lịch sử Trung Quốc thì không một cường quốc nào tính chuyện chiếm đóng Trung Hoa rộng mênh mông cả. Như các cuộc chiến tranh Nha Phiến, chiến tranh với Nghĩa Hòa Đoàn, Liên Quân 8 nước...thì cuối cùng chỉ là những cuộc chiến cục bộ, nhỏ để đưa đến ký các hòa ước mà thôi. Tấn công và chiếm đóng Trung Quốc, nếu có thể thì cũng không cường quốc nào chọn chiếm đóng Trung Quốc vì lý do trên.
Bởi vậy, những luận điểm phê phán tính thực chất của Hiệp định hợp tác hữu nghị Việt-Xô chỉ là sự ngụy biện, nhằm li gián tình hữu nghị giữa 2 nước anh em, hoặc chưa hiểu hết về truyền thống tự cường của con người Việt Nam mới cho rằng, Liên Xô sẽ nổ súng ngay sau khi Trung Quốc xâm lược nước ta.
Tuy nhiên, về cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc năm 1979, rất nhiều bạn đã thắc mắc rằng, ngay từ đầu Bắc Kinh có ý định đánh xuống Hà Nội hay không? Hay ở miền Bắc lúc đó vẫn còn Quân đoàn 1, tại sao lại không tham chiến? Tại sao các lực lượng chủ lực của Việt Nam không tham chiến. Hoặc thắc mắc là vì sao Trung Quốc không huy động đến những lực lượng có tính răn đe mạnh như không quân hay tên lửa; còn Việt Nam cũng không dùng đến lực lượng không quân lúc đó đang rất mạnh?

Trong khuôn khổ chương trình diễn tập và vận chuyển khí tài chiến đấu trong không đầy một tháng đã tiến hành cơ động 20.000 quân nhân của lực lượng vũ trang Việt Nam, hơn 1.000 đơn vị (unit) trang thiết bị chiến đấu, 20 máy bay quân sự và máy bay trực thăng, hơn 3 nghìn tấn vũ khí trang bị, đạn và cơ sở vật chất phục vụ chiến tranh, được đưa từ miền Nam và Cămphuchia ra miền Bắc.
Liên bang Xô Viết đã thực hiện sứ mệnh cao cả của mình, bằng sự giúp đỡ của tinh thần đồng chí, tăng cường sức mạnh quân sự cho quân đội nhân dân Việt Nam bằng giải pháp cung cấp khí tài quân sự. Trong giai đoạn đầu tiên của cuộc xung đột vũ trang đến tháng 3 năm 1979 theo đường vận tải biển và hàng không đã chuyển đến Việt Nam hơn 400 xe tăng và xe thiết giáp, xe bộ binh cơ giới, 400 khẩu pháo và súng cối, 50 tổ hợp pháo phản lực Grad BM-21, hơn 100 khẩu pháo phòng không, 400 tổ hợp tên lửa phòng không vác vai và hàng nghìn tên lửa, 800 súng chống tăng RPG-7, 20 máy bay tiêm kích các loại.
(Theo Đất Việt)

29/6/14

Tân Cương lạc nhịp trong giấc mơ Trung Hoa

THẾ GIỚI BÊN NGOÀI
Quan hệ quốc tế - An ninh Trung Quốc vừa phát hiện một kho gần 2 tấn thuốc nổ và bắt giữ 5 đối tượng người Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương.
Thêm vũ khí và tội phạm
Chính quyền sở tại thành phố Hòa Điền, phía Nam Tân Cương cho biết trên truyền thông nước này đã “triệt phá 2 cơ sở tạo chất nổ và tịch thu 1,8 tấn nguyên liệu dùng để tạo các thiết bị gây nổ, trong đó đã có một số lượng lớn các thiết bị gây nổ gần hoàn thiện.”
Theo thông tin được chia sẻ trên cổng thông tin của chính quyền thành phố này, những đối tượng trên đã bắt đầu tạo bom với âm mưu “lái xe vào những khu vực đông người và cho bom phát nổ” ở thành phố Hòa Điền.
Giới chức nơi đây cho rằng đây là những hành động theo định hướng khủng bố bởi những đối tượng bị bắt giữ đã xem video cổ xúy cho chủ nghĩa tôn giáo cực đoan.
Trong một tháng vừa qua, tình hình an ninh tại khu vực tự trị này của Trung Quốc đang diễn ra rất phức tạp. An ninh nước này đã bắt giữ hơn 200 nghi phạm và tịch thu hơn 200 thiết bị gây nổ tại Tân Cương chỉ trong một tháng.
Một thực tế cho thấy, nhìn vào các cuộc tấn công tại các thành phố ở vùng tự trị này, và các cuộc tấn công lan rộng khắp Trung Quốc, đều có một điểm chung: đối tượng tấn công mang hình thức nhằm vào chốn đông người, hoạt động độc lập nhưng có sự thống nhất về ý chí và mục đích giữa các cuộc tấn công, nghi phạm các cuộc tấn công đều tử vong do chất nổ của mình.
An ninh Trung Quốc siết chặt tại Tân Cương
An ninh Trung Quốc siết chặt tại Tân Cương
Còn nhớ, những năm trước, tại khu vực này, các cuộc tấn công xuất hiện ít hơn, hình thức là tấn công bằng dao hay vũ khí thô sơ của nhóm đông người vào các cơ sở an ninh. Dù luôn khẳng định, các vụ tấn công ở Tân Cương không phải là "đánh bom tự sát" nhưng rõ ràng, vấn đề này đang khiến giới chức Bắc Kinh hết sức lo ngại. 
Càng bắt bớ, càng chống đối
Một thực tế cho thấy, càng có sự bắt bớ, triệt phá của an ninh Trung Quốc chỉ làm cho tình hình ở khu vực này trở nên tồi tệ. Còn nhớ vụ bạo loạn tại huyện Bachu (tỉnh Kashgar, Tân Cương) khiến 21 người chết. Khi đó, cảnh sát ập tới kiểm tra một ngôi nhà nghi chứa súng và chất nổ, tuy nhiên, sau đã bùng phát thành một cuộc tấn công tập thể bằng dao và vũ khí tự chế.
Trong khi chính phủ Trung Quốc coi đây là vụ tấn công khủng bố, thì Uỷ ban Duy Ngô Nhĩ thế giới lại cho rằng đây là hành động trả thù của nhóm người Duy Ngô Nhĩ đối với việc một nam thanh niên dân tộc này bị lực lượng vũ trang Trung Quốc bắn chết.
Hay như việc Chủ tịch Tập Cận Bình tháng 4 qua tới thị sát tình hình an ninh và kiểm tra khả năng phản ứng của lực lượng quân đội, cảnh sát chống bạo động của nước này tại Tân Cương, ngay lập tức đã có một vụ tấn công bằng dao và thiết bị gây nổ tại nhà ga xe lửa ở Urumqi, khiến 3 người chết và 79 người bị thương.
Sau khi ông Tập Cận Bình rời khỏi nơi đây, ba quan chức của chính quyền Tân Cương đang câu cá cũng bị ám sát.
Những hành động này không phải ngẫu nhiên, mà đã có sự tổ chức và dụng ý đối đầu rất rõ ràng giữa người tổ chức tấn công và chính quyền Trung Quốc.
Tân Cương - Viên ngọc đẹp
Vì sao Tân Cương trở thành điểm nóng của sự bất ổn tại cường quốc châu Á đang trỗi dậy này? Trước hết phải thấy rằng, khu vực này là một viên ngọc quý về địa chính trị, năng lượng, khoáng sản, và không ít người đều nhòm ngó viên ngọc này.
Tân Cương chiếm khoảng 1/6 diện tích Trung Quốc, 1/4 chiều dài đường biên giới quốc gia và là khu tự trị, đồng thời là đơn vị hành chính cấp tỉnh lớn nhất Trung Quốc với diện tích lên tới 1,6 triệu km2, nhưng chỉ có khoảng 4,3% diện tích đất đai ở đây thích hợp cho con người cư trú.
Một số phần tử bạo loạn của người Duy Ngỗ Nhĩ trong vòng vây cảnh sát
Một số phần tử bạo loạn của người Duy Ngỗ Nhĩ trong vòng vây cảnh sát
Tuy chỉ là một khu tự trị, nhưng Tân Cương có đường biên giới tiếp giáp với 8 quốc gia (Mông Cổ, Nga, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Afghanistan, Pakistan và Ấn Độ). Ngoài ra, Tân Cương còn quan hệ “lân bang” với 2 tỉnh và 1 khu tự trị của Trung Quốc là Cam Túc, Thanh Hải và Tây Tạng. Tân Cương là khu vực có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống như Duy Ngô Nhĩ, Mông Cổ, Hồi...
Theo thống kê chính thức, Tân Cương có trữ lượng dầu khí (đã được phát hiện) khoảng 2,5 tỉ thùng và 1.400 tỉ m3 khí đốt (chiếm 34% trữ lượng khí đốt của Trung Quốc và Bắc Kinh đã xây dựng tuyến đường ống dài 4.000km để chuyên chở 24 tỉ m3 khí đốt từ đó về Thượng Hải). Tân Cương cũng quản lý tuyến đường quan trọng vận chuyển dầu từ Kazakhstan về Trung Quốc.
Tân Cương hiện có sản lượng khai thác dầu khí lớn thứ 2 Trung Quốc (1,1 triệu thùng/ngày), sản lượng khai thác khí đốt chiếm 14% cả nước. Tân Cương còn có trữ lượng than lên tới 2.190 tỉ tấn, cùng sản lượng khai thác 80 triệu tấn/năm, chiếm 40% tổng sản lượng than của Trung Quốc. Tân Cương cũng sở hữu mỏ vàng, đồng, nickel và số mỏ quặng sắt lên tới 1/4 trữ lượng của toàn quốc. Ngoài ra, Tân Cương còn là nơi cung cấp bông lớn nhất Trung Quốc.
Sự giàu có từ thiên nhiên, với đặc điểm nằm cách xa đặc khu hành chính, quân sự Bắc Kinh khiến bản thân khu vực này chứa nhiều bất ổn. Tuy nhiên, mấu chốt của vấn đề, không phải các thế lực bên ngoài đang tham gia vào Tân Cương như thế nào, mà bản thân chính quyền Trung Quốc đã giải quyết vấn đề ra sao?
Giấc mơ Trung Hoa, không phải giấc mơ Duy Ngô Nhĩ
Trước hết phải thấy rằng, bản thân chính quyền Bắc Kinh đang không hiểu, hoặc giả như hiểu nhưng không giải quyết được triệt để vấn đề tồn tại ở khu vực tự trị này.
Theo nghiên cứu của Raymond Lee, chuyên gia về các vấn đề Trung Quốc đăng trên chuyên trang của hãng thông tấn Al Jazeera thì có 5 nguyên nhân như sau:
Trước hết, Trung Quốc đang phát triển với tốc độ chóng mặt và không hề bền vững. Từ khi Đặng Tiểu Bình áp dụng chính sách cải cách và mở cửa năm 1978, Trung Quốc đã đi theo một quá trình hiện đại hóa quá nhanh. Sự gia tăng đô thị hóa, mức sống, đồng thời là phân biệt giàu nghèo đã khiến Trung Quốc bỏ qua những giá trị cốt lõi cho sự bền vững của xã hội.
Đánh bom ở Thiên An Môn được cho là của những nhóm khủng bố Duy Ngô Nhĩ thực hiện
Đánh bom ở Thiên An Môn được cho là của những nhóm khủng bố Duy Ngô Nhĩ thực hiện
Tân Cương cũng nằm trong xu thế chung của cả Trung Quốc. Sự mất bền vững kết cấu xã hội đã được thể hiện ở xu thế tội phạm gia tăng ở khu vực này. Trong giai đoạn từ 2000 – 2009, những vụ giết người ở Tân Cương có tỉ lệ cao nhất cả nước.
Thứ hai, đó là sự bất mãn với chính quyền địa phương. Người Duy Ngô Nhĩ tại Trung Quốc có khoảng 10 triệu người, 80% dân số này sống tại Nam Tân Cương, dân trí thấp, chủ yếu làm nông dân và ít có cơ hội tiếp xúc với việc làm.
Trong khi các doanh nghiệp Trung Quốc đổ tiền đầu tư vào khu vực này, nhưng công nhân đều được mang từ tỉnh khác đến, càng tạo thêm khoảng cách giữa người bản địa với sự phát triển chung của đất nước.
Chính sách chia để trị của Trung Quốc được áp dụng triệt để khi 60% dân số Tân Cương là người Duy Ngô Nhĩ, 40 % là người Hán, nhưng quan chức lại đại đa số là người Hán. Tình trạng chia rẽ xã hội gắn với việc khai thác đất đai, tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn, nạn tham nhũng trong chính quyền địa phương, và cảm giác thất vọng vì bị gạt ra ngoài lề xã hội, định kiến sắc tộc, và không hiểu văn hóa,... tất cả làm gia tăng cảm nhận tiêu cực của người Duy Ngô Nhĩ về chính sách Phát triển miền Tây Trung Quốc.
Thứ ba, điều kiện kinh tế xã hội nội tại ở khu vực Duy Ngô Nhĩ (phía Nam Tân Cương) làm nảy sinh sự bất bình xã hội mạnh mẽ vì bất bình đẳng khu vực. Ở Tân Cương, người ta thường có câu “giàu hơn người giàu nhất, nghèo hơn người nghèo nhất.” Tuy nhiên, người giàu chỉ rơi vào các trường hợp người Hán.
Cảm giác bị tước đoạt về điều kiện sống không chỉ củng cố thêm bản sắc của dân tộc Duy Ngô Nhĩ mà còn làm nảy sinh xu hướng thù địch chống lại sự cai trị của người Hán.
Đời sống nghèo khổ, khắc nghiệt của người Tân Cương
Đời sống nghèo khổ, khắc nghiệt của người Tân Cương
Thứ tư, sự mất tự do về các hoạt động tôn giáo dẫn đến những hình thức tuyên truyền, sinh hoạt tôn giáo “chui”, là mấu chốt để những tư tưởng cực đoan xâm nhập vào ý thức hệ của những người Duy Ngô Nhĩ tại đây, đặc biệt với những người trẻ.
Cuối cùng, sự áp đặt an ninh, những biện pháp mang tính thiết quân luật đã không đủ sức răn đe mà chỉ khiến mâu thuẫn ngày càng gia tăng. Bắc Kinh đã không giải quyết tận gốc khủng hoảng, mà chỉ chạy theo xử lý bề nổi.
Một thực tế cho thấy rằng, Duy Ngô Nhĩ và Tân Cương chất chứa rất nhiều uất ức với chính quyền. Và Bắc Kinh dường như chưa xem xét tâm tư nguyện vọng của những người thiểu số này một cách công bằng.
Chủ tịch Tập Cận Bình hô hào cả quốc gia Trung Quốc theo đuổi một giấc mơ Trung Hoa, với tham vọng vươn biển, nuốt biển. Tuy nhiên, những mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo, những sai lầm chính sách về bình đẳng các dân tộc và giấc mơ về một thiên triều hoàng kim của người Hán sẽ khiến Trung Quốc đổ vỡ từ bên trong. Điều này cũng giống như một người bên ngoài khỏe mạnh, nhưng bên trong mang đầy mầm mống ung thư.
Đỗ Minh Tú