17/7/16

Đọc “Pol Pot: Mổ xẻ một cơn ác mộng”



  
Tác giả: Trần Hữu Dũng
Hầu như mọi người đều biết những nét chính của lịch sử Campuchia cận đại. Trong ba năm, tám tháng, hai mươi ngày (từ 17-4-1975 đến 7-1-1979), dưới quyền Pol Pot (tên cúng cơm là Saloth Sar, và còn nhiều biệt danh khác) chính quyền Khờ-me Đỏ đã thảm sát có thể đến 2 triệu trong tổng số 7,7 triệu đồng bào họ. Sự dã man quá sức tưởng tượng ấy đặt ra câu hỏi: Đó là tội ác của cá nhân Pol Pot và Khờ-me Đỏ, hay là hệ quả của Mác-xít, cụ thể là Mác-xít của một nhóm trí thức Khờ-me từng du học bên Pháp? Hoặc, phần nào, đó là một “đặc sản” của xã hội và văn hóa Khờ-me?

Philip Short, người Anh, nguyên là phóng viên đài BBC và Times of London, tuy không là sử gia như những tác giả đi truớc (như Chandler, Kiernan cùng đề tài, nhưng có cái lợi là viết sau ngày Khờ-me Đỏ quy hàng (1998). Ông đã lặn lội hơn bốn năm ở Campuchia, phỏng vấn nhiều nạn nhân cũng như một số cựu thủ lãnh Khờ-me Đỏ hiện còn sống (như Khieu Samphan, Ieng Sary, Nuon Chea), và đặc biệt là Laurence Picq, một phụ nữ Pháp nhiệt tình tin tưởng ở Khờ-me Đỏ, theo chồng là Suong Sikoeun về Phnom Penh năm 1975. Quyển “Pol Pot” của Short là một tác phầm “lớn”, đầy ắp những chi tiết thú vị. Qua hơn 500 trang giấy, người đọc sẽ biết thêm rất nhiều chẳng những về Pol Pot mà còn về lịch sử Campuchia thế kỉ vừa qua, đặc biệt là những liên hệ với Việt Nam, qua con mắt của người Khờ-me.
  
Một trong vài ấn tượng mạnh nhất mà cuốn sách này để lại là, rõ ràng, những sự tàn ác hơn ba năm dưới quyền Khờ-me Đỏ không phải bắt đầu vào ngày họ bước chân vào Phnom Penh mà đã manh nha từ mấy mươi năm về trước, và dần dần leo thang. Short cho thấy tội ác của Pol Pot và đồng bọn có nguồn gốc sâu tận trong bản tính Khờ-me, chính sách của họ là phản ảnh bản tính ấy, uốn nắn bởi dòng lịch sử (và địa lí) Khờ-me. Nó không là một hiện tượng đột phát, dị thường. (Ở đa số các nước khác, Short nhận xét, những cuộc thanh trừng đẫm máu như thế thường xảy ra sau một biến cố chính trị nhất định nào đó — ở Nga, năm 1918, sau cuộc ám sát hụt Lênin chẳng hạn – hơn là kế thừa của một chuỗi biến cố xã hội và văn hóa lâu dài.)
Thật vậy, nhìn suốt dòng lịch sử theo lời kể của Short, khó tránh ấn tượng là Pol Pot và đồng bọn đã mưu tính từ lâu là sẽ thẳng tay tàn sát ngay từ ngày đầu của Campuchia dưới quyền họ. Cuộc viếng thăm năm 1965 của Pol Pot ở Hà Nội (làm việc với Lê Duẫn) và Bắc Kinh (vài tháng trước cách mạng văn hoá) là bước ngoặt quan trọng trong tư duy của cấp lãnh đạo Khờ-me Đỏ. Nhưng có lẽ quyết định tàn sát là rõ rệt nhất sau những năm đầu thập kỉ 1970, một phần là phản ứng các đợt giết chóc dã man của quân Lon Nol, một phần cũng là bị lan nhiễm “khí thế” “cáp Duồn” (giết người Việt) bừng bừng ở Campuchia lúc ấy. (Nhờ Short, độc giả sẽ nhớ lại, nếu đã quên, bản chất của Sihanouk: đằng sau bộ mặt bông lơn bốc đồng như tên hề của ông ta là một người tham ô, nham hiểm, và tàn ác không vừa!) Short cũng kể đến sự ngạc nhiên của Pol Pot vào tháng 3 năm 1971, khi thấy “thị trường” ở vùng họ giải phóng (cụ thể là Kratié) hồi sinh nhộn nhịp còn hơn truớc, với những con buôn dỡ lại mánh khóe lừa bịp, bốc lột dân chúng.
Về cuộc lùa dân khỏi thành thị sau ngày chiếm Phnom Penh, cấp lãnh đạo Khờ-me Đỏ khó biện hộ. Với các kí giả tây phương, Pol Pot giải thích sự di tản đó là cần thiết vì thành thị sắp cạn lương thực, và Mỹ sắp tấn công. (Song đó là nói láo vì lương thực ở thành thị lúc ấy thật ra còn đầy ắp, và không gì khó hơn tiếp vận hàng triệu người nhốn nháo di tản.) Với kí giả Trung Quốc thì Pol Pot có vẻ thành thực hơn, bảo rằng mục tiêu của di tản là nhằm phá vỡ các mạng gián điệp của địch.

Sự thực, cuộc di tản này là theo kế họach có từ lâu. Trong phỏng vấn với Short sau ngày quy hàng, Ieng Sary cho biết Pol Pot và đồng bọn rút kinh nghiệm của Công xã Paris vào thế kỉ 19. Theo họ, Công xã này sụp đổ là bởi giai cấp vô sản đã không hành quyền độc tài đối với giai cấp trưởng giả. Pol Pot muốn tránh sai lầm đó. Thêm nữa, theo tài liệu nội bộ của Trung ương đảng Cộng sản Khờ-me mà Short khám phá sau này thì mục đích “làm trống đô thị” là nhằm bảo tồn và củng cố địa vị của cán bộ và quân lính Khờ-me Đỏ. Pol Pot dự trù là chỉ sau 2-3 năm (khi dân di tản không còn vật dụng, tiền bạc mà họ mang theo) thì mọi người đều vô sản như nhau. Theo cách nói của Short, chiến dịch (lùa dân khỏi thành thị) ấy không phải là giai đoạn đầu trong kế họach tiêu diệt toàn thể một giai cấp (trí thức, hoặc thị dân) như nhiều tác giả khác đã phân tích, nhưng mục đích của nó là đưa Campuchia trở về cảnh hỗn mang, và từ đó một Campuchia mới sẽ xuất hiện.

Khác với Chandler và nhiều tác giả khác, Short cho rằng sự tàn ác của Khờ-me Đỏ không phải là hệ luận của chủ nghĩa Mác Lê (hoặc, chính xác hơn, của chủ nghĩa Stalin qua con mắt của nhóm trí thức Khờ-me Đỏ từng du học ở Pháp). (Theo Short, phần lớn sinh viên Khờ-me ở Pháp không giỏi tiếng Pháp, họ thú nhận là không hiểu nổi kinh điển Mác Lê. Đối với những người này thì Stalin dễ hiểu hơn, nhất là phần về “thanh trừng nội bộ đảng”!).
Cũng nên biết là lúc ở Pháp, bọn Pol Pot thường sang Nam Tư vào mùa hè để lao động ở các công trường tập thể ở nước ấy. Những kinh nghiệm này (và việc họ thán phục Nam Tư đã đứng lên chống lại Liên Xô mà họ ví như Campuchia sẽ chống lại Việt Nam) đã có ảnh hưởng đến những việc họ làm sau này ở Campuchia. Nhưng Short cũng nhận rằng về chính sách kinh tế (vấn đề huớng nội hay hướng ngọai, vai trò của công nghiệp, v.v.) thì Khờ-me Đỏ bị ảnh hưởng rất nhiều từ những gì họ học được trong sách vở Pháp thời kì này.
Hơn nữa, theo nhiều tư liệu dẫn chứng của Short, Pol Pot và đồng bọn không chỉ muốn áp dụng chủ nghĩa Mác Lê ở Campuchia, họ còn muốn vượt qua (“đi tắt đón đầu”?) chủ nghĩa đó để khôi phục sự “vĩ đại” của Khờ-me, trên cả Việt Nam, Trung Quốc, Liên Xô, và mọi nước khác. Như vậy, có thể nói, Pol Pot và đồng bọn bị chi phối bởi hai tư tưởng trái ngược nhau: một bên là mặc cảm tự ti, và một bên là hội chứng vĩ cuồng, sô-vanh dân tộc.
Theo Short, sự tàn ác dã man chưa từng có của cộng sản Khờ-me sau này là do văn hóa Khờ-me, pha lẫn với mặc cảm hận thù (dồn nén qua nhiều thế kỉ) đối với các nước láng giềng, nhất là Việt Nam, mà đa số dân Khờ-me (cộng sản hay không) đều có. Bằng cớ là sự tàn ác của Khờ-me Issarak (tổ chức không cộng sản), hoặc của chính quyền Sihanouk, Lon Nol.
Theo Short, đa số người Khờ-me theo chủ nghĩa Mác Lê không vì những nhận định sâu sắc gì của chủ nghĩa ấy, nhưng để tìm cách đuổi Pháp ra khỏi nuớc họ, và để thay đổi một xã hội phong kiến mà chế độ thuộc địa đã giữ nguyên. Mấy người này (cũng như những người cộng sản nơi khác) nhìn chủ nghĩa Stalin qua lăng kính của văn hoá họ; trong trường hợp nhóm Pol Pot lúc đó, văn hóa ấy là Phật giáo tiểu thừa. Chủ nghĩa Stalin là biểu hiện của cái “tốt thắng xấu” (không phải là của giai cấp vô sản hay công nhân gì sất).
Theo Short, Khờ-me Đỏ chịu ảnh hưởng của Stalin, khác với Trung Quốc và Việt Nam, với truyền thống nho giáo, chịu ảnh huởng của Mác Lê. Đối với Short, văn hóa Khờ-me không có ý niệm “công lí” như những văn hóa khác. Văn hóa Khờ-me là một văn hoá “thống trị hoặc bị thống trị”, một văn hóa tránh đối đầu (confrontation). Trong một văn hoá như vậy, không thể giải quyết những tranh chấp bằng tranh cãi hay lí luận. Giữa hai thái cực phục tùng và vũ lực, không có “điểm giữa”. Một điều nữa (khá tế nhị) là tuy Short không nói thẳng rằng bản tính của dân Campuchia là lười biếng, nhưng rõ ràng là ông ám chỉ như thế.
Khác với những bạo chúa như Stalin (xem Deutscher [5]), hoặc Hitler (xem Bullock [6]) là những người tuy đời tư thì rất tầm thường song “nổi bật” trong địa vị bạo chúa, Pol Pot, qua cuốn của Short, cũng không có gì nổi bật như một bạo chúa cả. (Thậm chí, cho đến đầu thập kỉ 1950, không có dấu hiệu nào cho thấy Pol Pot sẽ tàn ác như sau này.) Pol Pot là một học trò tầm thường, một sinh viên tầm thường, một nhà chỉ huy quân sự tầm thường, một lãnh tụ tầm thường. Y chỉ đáng chú ý bởi một điều: mấy triệu người đã chết vì sự tàn ác và bất tài của y.
Cái kinh tởm nhất của chế độ Khờ-me Đỏ không phải là sự khắc nghiệt của nó (như tuồng nó có lí tưởng gì cao cả lắm!) mà là sự thô lậu tầm thuờng của một chế độ chuyên chế: tham ô, bè đảng, tranh giành tư lợi, đâm chém nội bộ … Chế độ ấy tan rã vì những thô lậu tầm thường ấy. Nếu không thì biết đâu nó đã chẳng thành công?
Tiếc là nhiều lí giải của Short có phần trái ngược nhau. Ví dụ, ông cho là Khờ me Đỏ giết tù binh không thương hại vì theo văn hóa Khờ-me thì con người không có khả năng cải tạo (và ông chua thêm, khác với nho giáo của Việt Nam và Trung Quốc). Song, trước đó, Short lại nói rằng theo chủ nghĩa cộng sản của Khờ-me Đỏ thì “ý thức vô sản” có thể được nung rèn ở mọi người, bất kì xuất thân từ giai cấp nào. Hai ý kiến này mâu thuẫn với nhau.

Nhiều chi tiết cũng cần xem lại: chẳng hạn như Short cho rằng sự giải tán của đảng Cộng sản Campuchia tháng 12 năm 1981 là có thật, trong lúc Chandler thì cho rằng đảng này vẫn còn tồn tại ít nhất đến năm 1985, và có lẽ sau đó nữa. Short cũng có nhiều phát biểu nghe rất kêu, nhưng hơi rỗng, ví dụ “người Khờ-me khẳng định nhân thân của họ qua một lưỡng phân: họ chống lại cái mà họ không là”. Nghĩa là gì? Và đâu là bằng cớ?

Short hay so sánh Campuchia với Việt Nam và Trung Quốc và cho rằng sự dã man của Khờ-me (khác với Việt Nam và Trung Quốc!) là phản ảnh sự khác biệt giữa nho giáo và Phật giáo tiểu thừa. Người viết này e rằng Short đã lí luận kiểu “post hoc ergo hoc”. Bởi lẽ, nếu thế thì hãy so sánh với Thái Lan và Miến Điện, những nước này cũng theo Phật giáo tiểu thừa như Campuchia nhưng sao họ không có bọn nào “dã man” như Khờ-me Đỏ?
Nhiều độc giả sẽ bất bình với Short khi ông cho rằng thảm họa ở Campuchia không thể gọi là “diệt chủng” vì, theo ông, chủ tâm của Khờ-me Đỏ là nô lệ hóa và thanh trừng kẻ thù hơn là tiêu diệt cả một giống dân. Cụ thể, theo Short, không thể so sánh (nhà tù nổi tiếng) Toul Sleng với các lò thiêu người của Đức trong Thế chiến II vì ở Toul Sleng tội nhân bị bắt buộc “cung khai”, “thú tội” trước khi bị thủ tiêu. Nhiều người cũng sẽ phản đối ý Short cho rằng văn hóa Khờ-me cũng là một phần lí do của sự tàn sát đó – họ trách Short đổ lỗi cho nạn nhân thay vì lên án thủ phạm. 

Một người đọc Việt Nam, quen với bức xúc “sao nước mình chẳng may, lại nằm cận kề ông khổng lồ Trung Quốc?”, khi gấp cuốn sách này lại, không khỏi có phần ái ngại cho người bạn láng giềng của chúng ta. Ôi, nếu chúng ta khó một, thì họ khó hai, khó ba! Bởi vì chính chúng ta cũng là ông “khổng lồ” đối với họ! Nhưng biết làm sao? Chúng ta chỉ biết hi vọng, và cầu mong, rằng họ (cũng như chúng ta) sẽ có những lãnh tụ sáng suốt, tài ba, đầy lòng nhân ái, để lèo lái con thuyền quốc gia trong một thế giới luôn luôn thay đổi, nhưng nhu cầu sống chung trong hòa bình giữa các quốc gia, đúng hơn là giữa người và người, bao giờ cũng là căn bản nhất.
Đây là bài điểm cuốn sách Philip Short, 2005, Pol Pot: Anatomy of a Nightmare, New York: Henry Holt.
Nguồn: Viet-studies 

Khẩu nghiệp sẽ theo tới tận 7 kiếp nếu nói những lời này ra…

Con người hãy cẩn thận lời nói. Lời nói là hơi thở từ miệng. Mà sống chết theo từng hơi thở ra vào, cho nên sống chết cũng theo từng lời nói mà đến đi.
Câu nói dân gian “Khẩu xà tâm Phật” là sai hoàn toàn, Phật chẳng bao giờ nói lời độc ác, hại người, là tính cách các con dùng để tả Rắn. Ở mỗi người có cách nói thương khác nhau, có cách biểu hiện Từ Bi khác nhau. Như hạnh sai biệt của các Bồ Tát, thị hiện là Phán quan cũng xét xử công minh, khó có thể gọi là Ác tướng.
Chư Tổ mắng chửi đệ tử từ tâm không, để giáo hóa nhẫn hạnh hay khai ngộ Chân tánh, chẳng thể gọi là Ác khẩu. Nhưng người tự cho mình có Tâm lành, nên buông lời không kềm chế, mỗi lời nói gây hại cho kẻ khác không kể xiết, lại ngụy biện bằng câu “Khẩu xà Tâm Phật” thì khẩu nghiệp ấy thật khôn lường. Từ Tâm Phật thì lời ấy dù thế nào cũng mang lợi cho người nghe. Ngược lại, chỉ gây hại đó gọi là Ác khẩu. Và Tâm Ác sinh tướng Ác, sinh khẩu Ác, sinh nghiệp Ác, sinh Ác báo.

Những điều cần bỏ để tránh gây khẩu nghiệp
1. Vọng ngữ – nói dối
Phật giáo coi trọng sự thật và điều thật, nên nói dối là một trong những tội nghiệt nặng. Người mà mở miệng ra là nói dối, nói dối không chớp mắt, nói dối tới quen miệng, thuận lời, không cần suy nghĩ, chính mình còn không cảm nhận được mình đang nói dối. Thật là nguy hiểm!
Nếu không thể giúp được gì cho người khác thì không nên hại người
Những người này đôi khí nói dối cũng không phải là để hại người mà nói dối cho vui, ba hoa, nhưng không biết rằng như thế là rước họa vào thân. Người gặp thì đề phòng, bạn bè gặp thì lánh xa, nhân duyên gặp thì vụt mất. Vì, Phật dạy về cuộc sống, dù nói dối xuất phát từ hảo tâm hay ác ý đều là tạo nghiệp xấu, làm tổn hại danh dự và hạ thấp bản thân.
2. Thiển ngữ – lời lẽ thô thiển
Người mà hay dùng những lời không hay đả kích người khác thì đối với Phật giáo chính là ác nhân. Đả thương lòng tự trọng của người khác, chửi mắng người khác, làm phương hại danh dự người khác là họa từ miệng ra, nói lời hại người lại chính là hại mình, tự mang phiền toái đến cho mình.
Bởi vậy, Phật dạy, tôn trọng người khác là tôn trọng chính mình. Khi thốt ra những lời lẽ thô tục đối với người khác thì cũng là lúc bản thân bị hạ thấp, mà nói lời thiển ngữ lại còn bị tổn phước, rất không nên làm.
3. Ba phải – nói hai lời
Hai lời tức là lúc nói thế này lúc nói thế khác, châm ngòi ly gián, trước mặt người này nói A mà với người khác lại nói B để hai bên phát sinh mâu thuẫn. Loại người này rất nguy hiểm, dùng lời lẽ hại người, là tạo nghiệp ác chứ không đơn thuần chỉ là nhói sai sự thật.
4. Xảo ngữ – lời lẽ khiêu khích
Người dùng ngôn ngữ khích bác, gợi lên lòng tham, sân, si của người khác, tuy cười nói bóng bẩy đấy mà bụng dạ sâu xa, cũng là ác nghiệp. Nếu không thể giúp được gì cho người khác thì không nên hại người, nếu không thể dùng từ bi mà hóa độ tham, sân, si của người khác thì cũng không nên khơi gợi, cổ vũ những thói xấu ấy.
5. Phật dạy: Hoạ từ miệng mà ra.
Nặng:
Ăn không nói có
Nói lời hung ác
Nói lưỡi đôi chiều
Nói lời thêu dệt
Nhẹ:
Ăn uống cầu kỳ (cứ con gì cũng ăn cho ngon cho no đi)
Phê bình khen chê
Rêu rao tứ chúng
Hậu quả của khẩu nghiệp cũng vô cùng kinh khiếp. Không dương thì âm, sớm hay muộn thì cũng đều có báo ứng.
Vết thương bạn gây ra trên thân thể người khác còn có ngày lành, còn vết thương gây ra do lời nói thì chẳng biết khi nào mới lành lặn được.
Khẩu nghiệp là nghiệp lực khó khắc phục nhất cho việc tu hành
Gieo nhân nào gặp quả ấy, đừng vì đôi lời nói ra phút chốc mà gánh nghiệp cả đời.
Khẩu nghiệp sẽ theo tới tận 7 kiếp nếu ai nói những lời này…
Mỗi khi nói điều gì cần phải suy nghĩ cho thấu đáo
Làm thế nào để giữ gìn khẩu nghiệp? Dưới đây là một vài phương pháp giữ gìn khẩu nghiệp:
- Một lời nói mà qua đó có ý tốt nhằm xây dựng người khác, hay một lời nói mà có ý thức động viên an ủi người khác… thì hãy nói đi, đừng chờ chi thời gian qua đi không còn ý nghĩa nữa. Với một cái Tâm ý tốt như vậy trong từng lời nói thì đó là một hành động tốt thì hãy tiếp tục đi, bởi vì sự tiếp tục đó chính là sự gieo trồng chánh nghiệp. Cho nên ông bà có nói rằng “uốn lưỡi 7 lần trước khi nói” để cho chính chúng ta suy nghĩ thật kỹ với những gì mình nói ra làm sao cho nó phù hợp tâm lý và nhất là hợp tình hợp lý. Thái độ nói ôn hòa điềm đạm sẽ làm tăng thêm uy tín cho người nói, gây dựng được một thiện cảm để người ta muốn nghe. Cuối cùng cái cốt lõi là ý thức của ta qua lời nói sẽ gây người nghe một cảm nhận, ý niệm qua lời nói của ta. Nói như vậy thì sợ gì người khác không nghe. Cứ tấn tu như vậy thì sẽ hình thành nên một hình ảnh đẹp, phẩm chất rất tốt trong mọi việc thương thuyết thường ngày.
- Lắng nghe: Khi nghe ai đó giãi bày, hãy chia sẻ với họ bằng sự lắng nghe, cho nên nó vẫn là một hoạt động dù không nói. Nghe ở đây là nghe tất cả với tâm chân thành, nhất là phải tập nghe những điều trái khoáy khó nghe.
- Sẽ không nói những gì gây đau khổ phiền não cho người và cho mình và đã lỡ nói rồi thì đừng nói nữa là cách tốt nhất để không nói bất chánh. Cũng giống như gieo trồng vậy, những lời nói hay thì người khác nhận, những lời nói không hay thì chính mình nhận lấy mà thôi. Chủ đích của nói là có người nghe, mà người ta không muốn nghe thì chính mình tự nghe lấy vậy. Ông bà ta cũng thường hay nói rằng “Lời ngay hay chói tai” đó là sự cảm nhận của người nghe, còn đối với người nói thì đã có “lời ngay” rồi mà còn “nói ngay” nữa với những cách nói tâm lý thì ai lại không muốn nghe, càng tốt hơn chứ sao.
- Tập nghe “chói tai” để quán thấy vô chấp và tập nói “Ái ngữ” để nhiếp phục tâm là con đường chánh pháp tu tập khẩu ngữ, hành trì tứ chánh hữu hiệu nhất về phương diện tạo khẩu nghiệp.
- Niệm Phật: Hãy học gương của Ni Sư trong câu chuyện ở trên. Hãy dùng câu cửa miệng “A Di Đà Phật” thay cho lời nói đâm thọc, thay cho lời khen tiếng chê. Chúng ta vừa tránh được nghiệp ác vừa có khả năng vãng sanh tịnh độ.
Theo Phunutoday

Bài thơ Tống Biệt Hành: Lời Bình Và Tranh Luận



Phạm Đức Nhì

( HNPD )Tống Biệt Hành của Thâm Tâm được báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy đăng năm 1940. Chỉ hơn một năm sau, nó đã được Hoài Thanh chọn đưa vào tuyển tập Thi Nhân Việt Nam


 TỐNG BIỆT HÀNH – KHEN CHÊ CHƯA ĐÚNG MỰC 

Tống Biệt Hành của Thâm Tâm được báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy đăng năm 1940. Chỉ hơn một năm sau, nó đã được Hoài Thanh chọn đưa vào tuyển tập Thi Nhân Việt Nam với những lời nhận xét:
Thơ thất ngôn của ta bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong. Nhưng trong bài dưới đây (Tống biệt hành) lại thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ. Điệu thơ gấp, lời thơ gắt, câu thơ rắn rỏi, gân guốc, không mềm mại uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại. 

TỐNG BIỆT HÀNH 

Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng…
Li khách! Li khách! Con đường nhỏ
Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu cay 

Bài thơ không có phép ẩn dụ toàn bài nên tứ và ý giống nhau. Những bài viết khác đã giải thích và diễn dịch khá kỹ lưỡng nên ở đây tôi xin đi thẳng vào phần phân tích và nhận định nghệ thuật.

Bốn câu thơ mở đầu thật tuyệt.

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Mấy câu thơ hay quá! Tứ thơ đẹp quá! Âm điệu mới lạ do phá cách trong luật bằng trắc lôi cuốn được 
sự chú ý của người đọc ngay từ giây phút đầu tiên. Hai câu đầu là tâm sự, cảm xúc của người đưatiễn: 
không đưa người qua sông nhưng sao lòng ta nôn nao như sóng vỗ. Hai câu sau là tâm tình kẻ ra đi quasự nhận xét tinh tế của người đưa tiễn: chỉ nhìn đôi mắt, ta cũng biết người buồn lắm vì trong đôi mắtấy chứa cả bóng hoàng hôn. Để tả cảnh tiễn biệt, chia ly, 4 câu thơ trên có thể hiên ngang đọ sức về giá trị nghệ thuật với bất kỳ đoạn thơ nào, ngay cả của thơ ca đương đại, mà không hề nao núng.

Âm điệu gân guốc, rắn rỏi. 

Thơ Mới thời bấy giờ cổ vũ ý tưởng mới, ngôn ngữ mới, thể thơ mới, đề tài mới… nhưng vẫn tôn trọng một số âm luật cũ để giữ được âm điệu mềm mại, du dương trong thơ. Tống biệt hành được cấu trúc bằng phương thức nghịch âm bất tuân những niêm luật vốn có của thể hành. Nó cũng chẳng tôn trọng âm luật của thơ mới. Có câu toàn thanh bằng: Đưa người ta không đưa qua sông; có câu có đến 4 thanh trắc liên tiếp: Sao có tiếng sóng ở trong lòng? Bởi vậy âm điệu của nó không uyển chuyển, du dương như phần nhiều thơ thời bấy giờ, thay vào đó, điệu thơ gấp, lời thơ gắt, câu thơ rắn rỏi gân guốc. Đó là nét rất độc đáo của Tống Biệt Hành. Nhờ đó, mới ra lò nó đã được sự chú tâm, ưu ái của Hoài Thanh.

Gợi được không khí hào hùng

H. Linh trong bài Đến Với Bài Thơ Hay: Tống Biệt Hành Của Thâm Tâm, đã viết: 

Đề tài bài thơ là một trong hằng hà sa số những cuộc ly biệt được đưa vào “Thơ Mới” thời 1930 – 1945. Nhưng có lẽ trong văn học Việt Nam, trước và sau Thâm Tâm, không ai viết về chia ly đầy tính bi hùng, trữ tình và mãnh liệt đến như thế.
Không rõ “Tống Biệt Hành” có gì “khó hiểu”? Nhưng rõ ràng khi đọc, tôi thấy thật “bâng khuâng”. Vẻ trầm hùng, cổ kính của bài thơ cùng những hình ảnh “mong manh, ghê rợn, như những nhát dao xiết vào tâm hồn, tưởng là rất nhẹ hóa ra lại rất nặng” gây nên một ấn tượng thật mạnh và sâu đến người đọc. 

Còn Nguyễn Hưng Quốc nhận xét khách quan hơn, chính xác hơn:
Chị, em và người yêu lưu luyến thế ấy, chẳng lẽ lại đành tâm ra đi? Nhưng ly khách lại đi thật. Bóng đã xa, người đưa tiễn còn ngơ ngác đứng và hun hút nhìn :
Người đi? ừ nhỉ, người đi thực 
Mẹ thà coi như chiếc lá bay 
Chị thà coi như là hạt bụi 
Em thà coi như hơi rượu say 

… li khách tuy ngậm ngùi nhưng nét chính vẫn là sự nghênh ngang, hào sảng. Thấp thoáng chút hùng khí đời xưa. Phảng phất hình ảnh Kinh Kha ngày trước. Rất đẹp. Biết là cường điệu mà vẫn thấy đẹp. 

Có lẽ ưu điểm lớn nhất, thành công lớn nhất của Tống Biệt Hành là gợi lại được cái cảnh tượng bi tráng của cuộc đưa tiễn Kinh Kha qua sông Dịch. Cái thần tình của Thâm Tâm là ông không nhắc gì đến Thái Tử Đan, Kinh Kha, Tần Thủy Hoàng, không nhắc gì đến con sông Dịch; ông chỉ gián tiếp, bóng gió rất xa xôi, bằng việc chọn thể hành cổ kính, đề tài tống biệt quen thuộc, chất liệu thơ xưa cũ, và chỉ có thế cũng đã đủ khiến người đọc không thể không cảm thấy như chính mình đang hít thở cái không khí trầm hùng của cuộc chia ly ấy.

Ngôn ngữ thơ trong Tống Biệt Hành

Theo Chu Mộng Long thì: 

Bài thơ (Tống Biệt Hành) phục sinh một cách toàn diện những gì tưởng chừng đã bị khai tử: thể hành cổ kính, đề tài tống biệt với người ra đi – li khách xưa cũ, kể cả chất liệu thơ: sông, sóng, bóng chiều, hoàng hôn, sen, lệ, màu thu, lá bay, hạt bụi, hơi rượu say quen thuộc đến mức đã mòn về nghĩa… với ý nhại cổ (giễu nhại : parody) 

Theo tôi, Thâm Tâm không phục cổ hoặc nhại cổ mà chỉ gợi cổ.
Chỉ với những từ sông, sóng, bóng chiều, hoàng hôn rất cũ, rất xưa, Thâm Tâm đã tạo nên 4 câu thơ tuyệt vời:

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Và cũng với chất liệu thơ cũ mòn cộng với thể hành cổ kính và đề tài tống biệt quen thuộc đã góp phần rất quan trọng vào việc gợi lại không khí trầm hùng, bi tráng trong bài thơ.

Nhưng cũng với những từ cũ như: sen, lệ, mùa thu, mắt biếc, chiếc khăn tay, ông đã viết nên 2 đoạn thơ:

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

không những tầm thường mà lại còn hơi “sến” nữa.

Cho nên nếu thi sĩ khám phá được thể thơ mới, đề tài mới, chất liệu thơ mới thì, dĩ nhiên, rất đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, những thứ “mới” ấy chỉ thực sự có giá trị khi nhờ chúng thi sĩ đưa được những câu thơ mới, hình tượng mới, trong đó chứa đầy cảm xúc mới của mình, vào thơ. Nhưng dù thế nào đi nữa cũng không nên coi thường thứ ngôn ngữ, chất liệu thơ xưa cũ hoặc giản dị. Nếu bài thơ vừa mới vừa hay vừa đẹp thì sẽ được độc giả nồng nhiệt đón chào, ngả mũ bái phục; còn nếu chỉ có mới không thôi thì nó cũng sẽ sớm đi vào quên lãng như hằng hà sa số những bài thơ dở khác. 


MTA (st)

(nguồn : haingoaiphiemdam.net)

Thế giới ảnh khỏa thân của Dương Quốc Định: "Phương Đông Huyền Bí"

( beauty of Vietnamese women )
 

Trong hàng nghìn năm qua, phương Đông luôn là một vùng đất bí ẩn và đầy quyến rũ, mời gọi những bước chân lữ hành lên đường khám phá…
Đó là vùng đất của những minh triết cổ xưa, những kho báu vô giá, và không thể thiếu những mỹ nhân Việt Nam mang vẻ đẹp chim sa cá lặn.

20140726-004058-2458917.jpg
20140726-004058-2458983.jpg
20140726-004058-2458842.jpg
20140726-004059-2459337.jpg
20140726-004058-2458694.jpg
20140726-004059-2459261.jpg
20140726-004059-2459186.jpg
20140726-004059-2459041.jpg
20140726-004059-2459558.jpg
20140726-004059-2459115.jpg
20140726-004059-2459405.jpg
20140726-004100-2460539.jpg
20140726-004059-2459486.jpg
20140726-004100-2460216.jpg
20140726-004059-2459633.jpg
20140726-004059-2459890.jpg
20140726-004059-2459705.jpg
20140726-004100-2460449.jpg
20140726-004100-2460329.jpg
20140726-004101-2461167.jpg
20140726-004100-2460959.jpg
20140726-004059-2459794.jpg
20140726-004101-2461051.jpg
20140726-004100-2460741.jpg
20140726-004100-2460850.jpg
20140726-004100-2460113.jpg
20140726-004101-2461536.jpg
20140726-004100-2460640.jpg
20140726-004059-2459999.jpg
20140726-004101-2461408.jpg
20140726-004101-2461295.jpg

16/7/16

KHÔNG THỂ KHÔNG KHỞI KIỆN TRUNG CỘNG NGAY TỪ BÂY GIỜ !


Sau thắng lợi mà Philiphin đạt được tại Tòa Trọng Tài Quốc Tế ở La Hay, Hà Lan (PCA), thì đến lượt Việt Nam với các bước đi tiếp theo sẽ thuận lợi vô cùng. Có thể nói thắng lợi của Phi cũng là thắng lợi của Việt Nam bởi sự liên quan giống nhau giữa hai nước, khi cùng có một kẻ thù xâm lấn biển đảo là Trung Quốc. Mặc dù Phi chỉ kiện Trung Quốc những vấn đề liên quan đến biển đảo của họ (đảo Vành Khăn) nhưng các tuyên bố của Tòa Án (PCA) thì lại liên quan đến Việt Nam rất nhiều.


Có nhiều điều đúng đắn mà PCA đã tuyên nhưng nội chỉ việc Tòa đã bác bỏ đường 9 đoạn (đường lưỡi bò) của Trung Quốc cũng đã làm người Việt Nam vui mừng rồi. Không vui mừng sao được khi PCA đã "cắt lưỡi bò" ở cái đường 9 đoạn vô lý này của Trung Cộng vì nó ảnh hưởng đến Việt Nam nhiều nhất. Trong khi đường này chỉ ảnh hưởng đến biển đảo của Phi ở vùng phía Tây Bắc thì nó lại ngự chình ình ở toàn bộ đường ra biển Đông của Việt Nam. Có nghĩa là nó chiếm hết mặt tiền của Việt Nam ra biển, và sẽ gây nguy hại đến an ninh, an toàn đường biển cũng như sự đánh cá của ngư dân trong hiện tại và tương lai. 

Tuy Trung Quốc vẫn tuyên bố biển Đông vẫn là con đường biển tự do, cũng như là thị trường đánh bắt cá không ai cấm, nhưng không ai tin Trung Cộng giữ lời. Với một quốc gia kinh tế hùng mạnh thứ hai, với khả năng quân sự vào hạng đầu bảng và nhất là tư tưởng bá quyền cùng một ban lãnh đạo hung hăng khó lường trong thế :”Trỗi Dậy Không Hòa Bình” thì thế giới không tin Trung Cộng cũng là điều dễ hiểu. Còn Việt Nam ta thì đương nhiên không thể tin được ông bạn 4 tốt, 16 chữ vàng này được qua lịch sử hiện đại gần đây, với các cuộc chiến vô lý từ năm 1979 – 1989. Và lại càng không đáng tin nữa khi các hành động nước lớn của Trung Quốc luôn gây căng thẳng trong thời gian gần đây. Như cắt cáp điện thoại, đưa giàn khoan HD 981 sang vùng tranh chấp cũng như là liên tục xảy ra các vụ húc tàu ngư dân Việt Nam khiến biển Đông không còn là một vùng biển bình yên nữa. Thủ phạm chính gây họa ở biển Đông cho người Việt Nam, người Philiphin….luôn là Trung Quốc và chỉ là Trung Quốc. Và không thể biết trong một ngày gần đây thì cái xứ láng giềng hung hăng đó lại gây thêm chuyện gì nữa.

Đây là một thời điểm hiếm hoi rất thuận lợi cho Việt Nam nếu khởi kiện Trung Cộng ra tòa án quốc tế. Mọi thứ thuận lợi đều đứng về phía Việt Nam, và bất lợi đứng về phía Trung Quốc. Công luận thế giới chung đều ủng hộ, và khuyến khích Việt Nam khởi kiện, và với những điều kiện đưa ra giống như Phi thì có thể nói chắc rằng chúng ta sẽ thắng, Trung Quốc sẽ nhận phần thua. Do vậy giống như người Phi, chúng ta chỉ có một con đường là khởi kiện Trung Cộng ra Tòa Án Quốc Tế ở La Hay Hà Lan. Chúng ta là chính nghĩa, mà nói một cách rõ ràng thì chúng ta còn nhiều chính nghĩa hơn cả xứ Philiphin, tức là chúng ta có nhiều điều kiện cần và đủ cho một vụ kiện chắc thắng còn nhiều hơn cả xứ Philiphin. Với việc Trung Quốc bác bỏ phán quyết của Tòa (PCA), và đe dọa sẽ lập vùng Nhận Diện Phòng Không như đã làm ở biển Hoa Đông khi tranh chấp với Nhật Bản, thì chúng ta lại càng có lý do để khởi kiện Trung Quốc ngay lập tức và không thể chậm trễ.

Tòa Án Quốc Tế (PCA) không có yếu tố ràng buộc pháp lý, tức là không có biện pháp bắt buộc bên nào phải thi hành các điều khoản mà nó đã tuyên, và có lẽ chẳng có tòa nào có đủ lực lượng chấp pháp để bắt Trung Quốc phải tuân theo cả. Nhưng điều đó không quan trọng bởi vì Tòa Án đó đã tuyên một điều vô cùng quan trọng và có giá trị pháp lý quốc tế về biển Đông. Đó là nó đã tuyên ai đúng ai sai cho mọi sự kiện, và Tòa Án ở La Haye đã phán quyết là Trung Quốc đã sai, Philiphin đã đúng.

Chúng ta cũng chỉ cần như thế trong lúc này mà thôi. Và chỉ cần khởi kiện để thắng lợi như Phi là đủ. Vì chúng ta là đúng, là chính nghĩa và còn gì bằng khi được quốc tế, qua phiên tòa đã tuyên rằng chúng ta là đúng, chúng ta là chính nghĩa. Chỉ cần điều đó là chúng ta có thể lợi thế vô cùng khi trên trường quốc tế, trong các cuộc họp tay đôi, tay ba mặc cả về các vấn đề ở biển Đông với Trung Cộng thì chúng ta đã có lợi rất nhiều, khi các điều kiện pháp lý quốc tế đứng về phía mình. Có thể vụ kiện không khiến chúng ta lấy lại ngay được Hoàng Sa, và một phần Trường Sa nhưng với thế mạnh sau vụ thắng kiện mà chúng ta đã kiện Trung Quốc và chắc chắn sẽ thắng kiện, thì chúng ta sẽ không còn là kẻ yếu đuối dưới cơ với Trung Quốc nữa, mà đã là một người nói chuyện sòng phẳng tay đôi với họ về mọi vấn đề ở biển Đông rồi.

Và sau này và mãi mãi, chúng ta cũng sẽ là những người sòng phẳng tay đôi nói chuyện với Trung Cộng để đòi lại Hoàng Sa và Gạc Ma, những phần đất đai biển đảo không thể chia cắt mà tổ tiên đã để lại.

Đã đến thời khắc lịch sử rồi, chúng ta chỉ cần mạnh mẽ khởi kiện Trung Cộng ngay từ bây giờ. Không kiện Trung Cộng sẽ có tội đời đời với dân tộc và với lịch sử...

MTA